Tu Chứng Phật Pháp III. Làm Thế Nào Để Tu Chứng Phật Pháp (2)

Hiện nay chúng ta đang ở trong cõi vật chất, vì vậy trước hết cần nuôi dưỡng một năng lực chuyên chú mạnh mẽ. Chuyên chú đến mức nào? Phải chuyên chú đến mức đạt được trạng thái vong ngã. Bởi vô ngã thì chúng ta vẫn chưa thể đạt tới, nên bước đầu tiên là chuyên chú đến mức quên đi cả thân lẫn tâm của mình. Khi sự chuyên chú đạt đến trạng thái vong ngã, khí mạch sẽ hội tụ tại một huyệt khiếu nào đó trong thân, chẳng hạn như trung tâm mạch luân hoặc một vị trí nhất định nào đó, rồi kết thành một khối năng lượng. Do trạng thái vong ngã cần được duy trì trong thời gian khá dài, nên khối năng lượng rỗng ấy sẽ dần dần thu nhỏ lại, ngưng tụ thành một khối năng lượng rất nhỏ. Khi đạt đến một mức độ nhất định, nó sẽ phát sinh sự bùng nổ, từ đó khí mạch chuyển nhập vào tầng quang minh. Một khi tiến vào quang minh thì chúng ta bước vào trạng thái định, cũng tức là tiến nhập cõi quang âm. Từ cõi quang âm, từng bước một sẽ tự nhiên tiến đến vùng chân không. Tuy nhiên, giai đoạn khởi đầu tương đối khó khăn, bởi vừa ngồi xuống là vọng tưởng tạp niệm liền dấy khởi liên miên; mà ngay cả khi tạp niệm đã giảm bớt, các cảm giác ê nhức, tê mỏi, lạnh, trướng, đau nơi thân thể lại tiếp tục xuất hiện. Vì vậy, chúng ta cần vượt qua những chướng ngại ấy. Sau đây xin giới thiệu một số phương pháp đơn giản nhằm bồi dưỡng năng lực chuyên chú.

I. Nội quán ý thủ.

Nội quán là đem tâm ý hướng vào thân tâm bên trong của chính mình. Chẳng hạn như ý thủ nơi mạch luân hoặc khí mạch. Nội quán tức là hành giả đặt sự chú ý vào thân tâm của mình. Vì sao lại dùng nội quán? Có một số pháp môn cũng sử dụng ngoại quán, tức là đặt một vật gì đó ở bên ngoài rồi chăm chú nhìn vào vật ấy không rời, từ đó bồi dưỡng năng lực chuyên chú. Chỉ cần tâm ý tập trung vào đối tượng đó là được. Tuy nhiên, theo tôi, nội quán vẫn tốt hơn. Vì sao? Bình thường lục căn của chúng ta luôn hướng ra bên ngoài và không ngừng tán thất. Mắt thường nhìn cảnh bên ngoài, tai thường nghe âm thanh bên ngoài, miệng cũng không ngừng nói năng, khiến năng lượng liên tục tiêu hao và phân tán ra ngoài. Vì vậy, khi tọa thiền, tốt nhất là thu nhiếp chúng trở lại. Thật ra, trong đời sống thường ngày, chúng ta rất ít khi chú ý đến thân tâm bên trong của mình, cho nên lấy nội quán làm phương pháp tu tập sẽ thích hợp hơn. Hơn nữa, khi tiến vào trạng thái vong ngã thì thực ra không còn sự phân biệt giữa trong và ngoài, bởi đã quên thân quên ngã, cũng không còn cái gọi là nội hay ngoại. Chỉ là trong giai đoạn mới bắt đầu thực hành, đặt tâm ý vào bên trong thân thể sẽ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nội quán cũng có một hạn chế, đó là khi quán chiếu bên trong, chúng ta không nhìn thấy những gì ở trong thân; còn ngoại quán thì có hình tướng cụ thể để nương theo. Ví dụ, nếu bảo một người ngồi nhìn chăm chú vào một vật nào đó trong hai giờ đồng hồ, ít nhất họ vẫn có một đối tượng hiện hữu trước mắt để tập trung, chẳng hạn ngồi nhìn một chiếc cốc suốt hai giờ. Nhưng nếu bảo họ ngồi quán nơi tâm luân trong hai giờ, thì việc duy trì sự chú tâm sẽ khó khăn hơn nhiều, bởi họ không thể nhìn thấy trạng thái của tâm luân. Vì vậy, tuy nội quán khó hơn, nhưng chỉ cần không ngừng rèn luyện thì vẫn có thể thực hiện được. Do đó, xét tổng thể, nội quán vẫn là phương pháp tốt hơn.

Trong khi nội quán, chẳng hạn lúc quán chiếu tâm luân hoặc tâm mạch, tuy mắt không nhìn thấy nhưng chúng ta vẫn có những cảm thọ nhất định. Có khi cảm thấy nơi ấy tê nhẹ, căng trướng hoặc nóng ấm; có khi cảm nhận được ánh sáng hay thấy các hình ảnh hiện khởi. Tất cả những hiện tượng đó đều thuộc về phương diện cảm thọ. Điều trước tiên cần đạt được là trạng thái “giác mà không động”, nghĩa là tuy có cảm nhận nhưng tâm không dao động theo cảm nhận ấy; tâm vẫn an nhiên bất động, không khởi phân biệt. Nhờ vậy, năng lượng mới có thể dần dần hội tụ. Nếu vừa có cảm nhận liền lập tức sinh tâm phân biệt, thì năng lượng đang hội tụ cũng sẽ ngay lập tức tán mất.

Nội quán mà chúng ta đang nói đến là đem tâm ý chuyên chú vào một vị trí nào đó bên trong thân thể. Điều này có phần tương tự với pháp “ý thủ” mà Đạo gia thường dùng trong dưỡng sinh, tức dùng tâm ý an trụ nơi một huyệt khiếu nhất định. Tuy nhiên, vị trí nội quán mà Phật giáo lựa chọn và phương pháp “ý thủ” của Đạo gia vẫn có những điểm khác nhau. Nhiều người không hiểu vì sao Phật giáo nói đến tam mạch thất luân, còn Đạo gia lại nói đến kỳ kinh bát mạch. Giữa hai hệ thống ấy có sự khác biệt gì? Theo cách nhìn này, nguyên nhân là do hai truyền thống đứng trên những góc độ khác nhau để quan sát vũ trụ và sinh mệnh. Có thể dùng một ví dụ đơn giản để hình dung: cũng như khi đứng từ Ngân Hà nhìn về địa cầu sẽ khác với khi đứng từ Thái Dương hệ nhìn về địa cầu. Theo góc nhìn của Phật giáo đối với vũ trụ và sinh mệnh, chúng có thể được nhìn như một thể cầu rỗng ở bên trong, vì vậy các mạch vận hành theo dạng vòng tròn, từng vòng từng vòng như những mạch luân. Đạo gia thuộc phạm trù “hữu ngã”, còn Phật giáo thuộc phạm trù “vô ngã”, cho nên Phật giáo nhìn nhận chúng như những mạch luân rỗng bên trong; còn trung mạch thì thông vào không gian của vô vi, tức trạng thái tu chứng vượt ra ngoài vùng chân không. Trong khi đó, Đạo gia khởi đầu từ mục tiêu dưỡng sinh, mong cầu trường sinh bất lão, vũ hóa đăng tiên, nên nhìn nhận hệ thống mạch từ góc độ thân thể con người, vì vậy hình thành khái niệm kỳ kinh bát mạch. Nếu nói theo góc độ vũ trụ, thì cách phân chia ấy giống như đứng từ vị trí của mặt trời để quan sát, với các chu trình tiểu chu thiên và đại chu thiên vận hành tuần hoàn, từ đó hình thành hệ thống kỳ kinh bát mạch. Còn góc độ của Phật giáo thì được ví như đứng từ trung tâm của Ngân Hà để quan sát.

Khi tu chứng đạt đến tầng bậc vô tâm và tiến nhập vào vùng chân không, các mạch cũng không còn hiện hữu nữa, bởi tất cả các mạch đều đồng quy về hư không. Đến lúc ấy, mọi sự phân biệt về mạch đạo đều dần tan biến. Nếu còn có thể nói đến một mạch nào đó, thì có lẽ chỉ còn lại trung mạch mà thôi.

Thông thường, vị trí để nội quán có thể lựa chọn là: trung tâm mi tâm luân (vị trí giữa hai đầu chân mày), trung tâm tâm luân, trung tâm tề luân, trung tâm hải để luân, sinh phát cung, toàn bộ cột sống hoặc một huyệt vị nào đó trên cột sống, bất kỳ một điểm nào trên trung mạch hoặc toàn bộ vị trí của trung mạch. Người dễ rơi vào trạng thái hôn trầm nên chọn những vị trí cao hơn để ý thủ; người có tâm tán loạn thì nên chọn những vị trí thấp hơn. Tuy nhiên, người bị cao huyết áp không nên ý thủ nơi vùng đầu, còn nữ giới trong thời kỳ kinh nguyệt không nên ý thủ nơi hải để luân.

Trong hệ thống tam mạch thất luân của thân người, trên đỉnh đầu, ngay chính giữa có huyệt Bách Hội; phía dưới có huyệt Hội Âm (nằm giữa hậu môn và cơ quan sinh dục). Đường nối từ huyệt Bách Hội đến huyệt Hội Âm được gọi là vị trí của trung mạch. Đây chỉ là một cách nói phương tiện. Khi thực hành quán tu, chúng ta chỉ cần lấy đường nối ấy làm vị trí của trung mạch để quán chiếu là được. Thật ra, trung mạch này trên thông với trời, dưới thông với đất, không phải chỉ tồn tại trong thân thể con người. Nó kéo dài lên trên và xuống dưới không có điểm tận cùng; còn đường nối giữa Bách Hội và Hội Âm chỉ là một cách biểu thị phương tiện mà thôi.

Tiếp đến là các mạch luân. Phía trên cùng gọi là đỉnh luân. Lấy huyệt Bách Hội làm trung tâm rồi vẽ thành một vòng tròn không giới hạn; có thể lớn vô hạn, nhỏ vô hạn, có thể là một điểm, một vòng tròn hay một mặt phẳng, tất cả đều có thể gọi là đỉnh luân. Kế đó là mi tâm luân và hầu luân. Mi tâm luân nằm ở chính giữa hai đầu chân mày; hầu luân nằm phía sau yết hầu; tâm luân nằm ở vị trí chính giữa hai bầu ngực. Tiếp theo là tề luân. Tề luân nằm tại giao điểm giữa mặt phẳng ngang đi qua rốn với trung mạch, tức ở trung tâm bên trong cơ thể, chứ không phải ở bề mặt bên ngoài. Dưới nữa là huyệt Hội Âm, tức hải để luân. Trong Ấn Độ giáo, vị trí này được gọi là sinh thực luân. Nó tương đối gần với vị trí hạ đan điền mà Đạo gia thường nói, tức vùng dưới rốn khoảng ba thốn. Đây là một vị trí rất quan trọng, là nơi tinh khí hội tụ. Người xưa nói con người có tam bảo là tinh, khí và thần, thì nơi đây chính là chỗ tinh khí ngưng tụ. Vì vậy, khi ý thủ tại vị trí này, chúng ta cũng gọi đó là ý thủ nơi sinh phát cung. Người tu cần hiểu rõ rằng trên thân thể có một số vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự tu chứng. Khi thực hành ý thủ và nội quán, tốt nhất nên đặt tâm ý nơi những vị trí ấy, như vậy việc tu tập sẽ thuận lợi và tiến triển nhanh hơn. Sinh phát cung trong Ấn Độ giáo được gọi là sinh thực luân; còn gọi là hạ đan điền hay sinh phát cung cũng đều chỉ là những tên gọi khác nhau mà thôi.

Phía trên đỉnh đầu khoảng ba thốn còn có một mạch luân gọi là Phạm đỉnh luân. Phạm đỉnh luân này chỉ có thể được thấy khi tu chứng đạt đến cảnh giới Pháp thân Phật; nếu chưa thành Phật thì không thể thấy được mạch luân này. Ngoài ra, còn có một mạch luân nằm ở phần cuối thân thể, nơi xương cụt. Vị trí này cũng được xem là một phần của hải để luân và có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, khi khai mở hải để luân, hành giả cũng cần đồng thời chú ý đến khu vực này.

Những mạch luân này trong thân thể, mọi người cần nắm vững đôi chút. Bởi hệ thống mạch trong cơ thể là vô lượng vô biên. Có bao nhiêu mạch? Kinh điển thường nói có 7.200 mạch, nhưng theo tôi, con số ấy còn xa mới phản ánh hết thực tế. Chúng nhiều đến mức khó thể đếm được, giống như vô số sông ngòi trên trái đất. Cũng như ở Trung Quốc có rất nhiều con sông, nhưng khi nói đến những dòng sông quan trọng nhất thì người ta thường nhắc đến Trường Giang và Hoàng Hà. Các mạch luân trọng yếu trong thân thể cũng tương tự như vậy, chúng là những điểm quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống mạch đạo. Vì thế, nếu muốn tu chứng và thực hành nội quán, chúng ta cần chú tâm đến những vị trí này, nương vào đó để hội tụ năng lượng, chuyển hóa năng lượng thành quang minh, từ đó chuyển hóa một cách sâu xa toàn bộ thân tâm và thế giới nội tại của mình. Do đó, cần ghi nhớ các mạch luân chính gồm: đỉnh luân, mi tâm luân, hầu luân, tâm luân, tề luân, sinh thực luân, hải để luân và Phạm đỉnh luân.

Khi tọa thiền, tâm ý của chúng ta cần hướng đến những vị trí ấy. Tuy nhiên, tôi nhận thấy nhiều người thường mắc phải một ngộ nhận. Họ cho rằng nội quán là dùng ý niệm để nghĩ đến vị trí đó, thực ra như vậy không phải là nội quán. Đó vẫn chỉ là dùng đầu óc để suy nghĩ về vị trí ấy. Nếu trong lúc quán tâm luân mà vẫn dùng tư tưởng để nghĩ về tâm luân, thì thực chất vẫn đang suy nghĩ về một đối tượng, chứ chưa phải là quán chiếu. Điều cốt yếu là “quán”, không phải “nghĩ”. Khi nội quán, năng lượng của bạn phải thực sự hướng đến và đi vào vị trí được quán chiếu, chứ không phải chỉ dùng ý thức để tưởng tượng. Bởi khi còn đang nghĩ, năng lượng vẫn lưu lại nơi đầu não. Trong lúc ý thủ, năng lượng, tâm và khí phải đồng thời quy tụ vào vị trí đang được quán. Nếu chưa nắm vững được yếu lĩnh này, có thể vận dụng hơi thở làm phương tiện hỗ trợ: hít một hơi vào và quán tưởng hơi thở đi đến tâm luân, rồi từ tâm luân thở ra. Bởi khi khí đến đâu thì tâm cũng đến đó. Thực hành như vậy vài lần, sau đó buông lỏng tự nhiên, thả lỏng thân tâm rồi tiếp tục nội quán. Đây cũng là một phương pháp hữu ích.

Khi thực hành nội quán, tốt nhất nên hạn chế di chuyển đối tượng quán chiếu, nghĩa là không nên lúc thì quán chỗ này, lúc lại quán chỗ khác. Trừ trường hợp có sự hướng dẫn trực tiếp của vị thầy, bởi đó là một phương diện khác của sự tu tập, liên quan đến sự dẫn dắt và những nhân duyên đặc biệt. Còn khi tự tu ở nhà, tốt nhất nên chọn từng vị trí để ý thủ trong một khoảng thời gian tương đối dài. Dĩ nhiên, cũng có những phương pháp nội quán yêu cầu di chuyển đối tượng quán chiếu từ vị trí này sang vị trí khác; mỗi vị thầy sẽ có cách chỉ dạy riêng. Trong những trường hợp cần thanh lọc các chướng ngại bên trong, hoặc khi một số mạch đạo bị bế tắc nghiêm trọng, việc di chuyển đối tượng quán chiếu sẽ có lợi hơn. Tuy nhiên, nếu mục đích chính là bồi dưỡng năng lực chuyên chú, thì không nên thường xuyên thay đổi vị trí quán chiếu, bởi như vậy sẽ dễ khiến năng lượng khó hội tụ. Khi duy trì sự chú tâm lâu dài tại một vị trí, năng lượng sẽ dễ dàng được tập trung và nhanh chóng chuyển hóa hơn.

Khi thực hành nội quán, tại vị trí được quán chiếu có thể xuất hiện các cảm giác như lạnh, nóng, tê, trướng, đau… hoặc cảm thấy thân thể lúc lớn lúc nhỏ, thấy quang minh hiện khởi, hình ảnh xuất hiện v.v… Tất cả những hiện tượng ấy đều là bình thường. Ngay cả khi không xuất hiện bất kỳ hiện tượng nào thì cũng là bình thường. Vì vậy, mọi người không cần quá ngạc nhiên hay xem đó là điều đặc biệt, bởi như vậy vẫn còn đang dừng lại ở tầng nhận thức của cõi vật chất. Nếu năng lực chuyên chú đạt đến trạng thái vong ngã, thì năng lượng có thể nhanh chóng được hội tụ vào bên trong thân thể.

Viết một bình luận