Hậu ký: Tâm lộ tùy bút [Tập 1]

Sự tu chứng Phật pháp chân thật chính là một quá trình khiến tâm linh không ngừng trưởng thành, thăng hoa và chuyển hóa. Người thật sự tu hành sẽ khiến tự tâm dần trở nên chín chắn, đối với vạn sự vạn vật trong thế gian sinh khởi lòng bao dung, từ bi và bác ái. Bằng không, tuy thân người ngày một lớn, tuổi tác ngày một cao, nhưng tâm tánh vẫn chỉ như một đứa trẻ vài tuổi; đối với những chuyện vụn vặt cỏn con nơi thế gian lại mãi hơn thua chấp nhặt, đối với những “đại đồ chơi” của thế tục thì lưu luyến không rời, đối với người mình yêu thích cũng quyến luyến nương tựa như trẻ thơ bám víu cha mẹ, khóc than níu kéo, phút chốc cũng chẳng nỡ lìa xa. Một tâm hồn thật sự trưởng thành và chín muồi thì dù đối diện bất kỳ phong ba hay nghịch cảnh nào của thế gian cũng vẫn có thể an nhiên tự tại, luôn giữ được tâm thái khiêm hòa, lạc quan và hướng thượng. Dù bình phàm hay vĩ đại, được sủng ái hay bị khinh chê, tâm vẫn bất động không kinh.

Phật còn được tôn xưng là ‘Điều Ngự Trượng Phu’, bởi trí tuệ viên mãn và thuần thục của Ngài có thể trong từng thời từng khắc điều phục tâm mình an trụ nơi trạng thái tốt đẹp nhất. Người đời tuy tuổi tác dần lớn, thân thể dần trưởng thành, nhưng trí tuệ chưa chắc tăng trưởng, trái lại còn chất chồng thêm sự nhiễm trước nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cùng đủ thứ chấp trước đối với thế sự. Chúng ta nhìn bề ngoài dường như rất khôn khéo, giỏi giang, không muốn chịu thiệt hay bị lừa gạt, nhưng chính cái khôn khéo hơn thua ấy lại đem đến cho mình càng nhiều phiền não và thất ý. Hầu như mỗi ngày, chúng ta đều đang làm những việc tự tổn hại chính mình mà không hay biết.

Quá trình trưởng thành của tâm linh chính là sự khai mở chân thật của trí tuệ, mà điều ấy cần phải trải qua tu hành. Tu hành cũng chính là sửa đổi những hành vi và tri kiến sai lầm của chính mình; còn tọa thiền, niệm Phật cùng các pháp môn khác chỉ là phương tiện giúp chúng ta điều chỉnh từng niệm khởi tâm động niệm mà thôi.

Quá trình trưởng thành của tâm linh đôi khi cũng giống như quá trình một con người lớn lên. Có thời kỳ ấu thơ, thời kỳ phản nghịch, thời kỳ thanh xuân, thời kỳ trưởng thành, rồi tiến đến viên mãn.

Ví như khi tôi mới bắt đầu tiếp xúc Phật pháp, những cảnh giới trong lúc tọa thiền, thần thông, sư phụ cùng kinh điển đều giống như những món đồ chơi phát sáng, không ngừng hấp dẫn và mê hoặc tâm tôi. Khi ấy, tôi bước vào thời kỳ ấu thơ trên con đường tu chứng Phật pháp. Chính lòng hiếu kỳ đã khiến tôi từng bước tiến sâu vào đó. Tôi cảm thấy mình như bước vào một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, nơi mà mọi thứ đều thần kỳ, đều vượt ngoài sức tưởng tượng trước kia của tôi. Tôi bắt đầu phủ định chính mình, phủ định những quy tắc trò chơi của đời sống thế tục. Trước lĩnh vực ấy, cả thế giới dường như lung lay sụp đổ trước mắt tôi. Tôi hưng phấn buông bỏ mọi nhận thức, giá trị quan và nhân sinh quan trước đây đối với sinh mệnh. Tôi cảm thấy mình đã tìm được kho báu thuộc về bản thân, liền không chút do dự lao đầu vào đó, thậm chí chuẩn bị từ bỏ tất cả để đổi lấy kho báu ấy. Khi ấy, tôi không còn nghe lọt bất kỳ lời khuyên can nào. Mọi thứ trong thế gian đối với tôi đều trở nên vô nghĩa, mọi ngôn ngữ thế tục đều trống rỗng vô lực, nhạt nhẽo như giấy dán tường. Sự ngăn cản càng lớn, tôi lại càng cảm thấy động lực mạnh hơn, quyết tâm tu hành cũng càng thêm kiên định.

Rất nhanh sau đó, tôi bước vào giai đoạn thứ hai của sự tu hành: thời kỳ phản nghịch. Khi ấy, tôi tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai phỉ báng hay phủ nhận con đường mà mình đã lựa chọn.

Theo sự tu hành ngày một thâm nhập, bất tri bất giác tôi lại bước vào thời kỳ thanh xuân trên con đường tu hành. Trong lòng bắt đầu sinh khởi mê mang, mà sự mê mang ấy phần lớn đến từ nỗi phiền não của “mất đi”. Nhìn tình yêu, sự nghiệp, tình bạn, cùng danh lợi, hư vinh, thể diện, tự tôn vốn gần trong tầm tay dần dần rời xa theo mức độ mình dốc lòng tu hành, trong tâm cũng theo đó mà sinh ra cảm giác hoảng hốt và mất mát. Tôi từng nói mình không sợ mất hết mọi thứ, nhưng thật ra bản thân vẫn chưa chuẩn bị xong. Hóa ra có rất nhiều điều mình căn bản không nỡ buông bỏ, thật sự không thể buông xuống được. Tôi bắt đầu hoài nghi lựa chọn của mình, hoài nghi liệu những gì đã mất có đáng hay không, thậm chí còn hoài nghi cả tính chân thật của con đường thành đạo.

Việc tu chứng Phật pháp gần như chiếm trọn toàn bộ tinh lực, thời gian và tiền bạc của tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy có lẽ trong nhiều lúc mình cần bánh mì và sữa hơn, cần giải quyết chuyện học hành của con cái, cần dành cho chồng nhiều sự quan tâm và yêu thương hơn, cần hiếu thuận cha mẹ, nghĩ cách để các ngài được an hưởng tuổi già. Bao nhiêu khó khăn của cuộc sống như một tấm lưới phủ trùm lấy tôi, khiến tôi sống giữa khe hẹp của thế tục và tu hành. Vào lúc ấy, tôi hầu như không còn cảm nhận được Phật pháp có thể mang đến cho mình điều lợi ích gì nữa, và tôi đã chuẩn bị buông bỏ con đường này.

Nhưng chút tín tâm vừa mới sinh khởi đối với Phật pháp, cùng tri kiến còn nông cạn và đôi chút pháp lạc từ thiền định mà tôi thỉnh thoảng nếm được, lại khiến tôi không thể dứt ra nổi. Mỗi khi đối diện với đủ loại phiền não trong cuộc sống, tôi muốn cạo tóc xuất gia để trốn tránh; nhưng khi gặp cám dỗ, tâm lại dao động không yên, tập khí và dục vọng từng giờ từng phút vẫn không ngừng hiện khởi. Thế nhưng trong lòng lại biết rõ hết thảy đều là vô thường, đều là hư huyễn, chỉ vì chính mình còn chấp trước, không cầm lên được mà cũng chẳng buông xuống nổi. Mỗi ngày tôi đều buông lung theo bản thân, rồi lại tự phản tỉnh, nhưng sang ngày hôm sau vẫn lặp lại những lỗi lầm cũ. Trước mặt nhiều người, tôi lại mang dáng vẻ của một người tu hành; mỗi khi muốn lấy cớ để trốn tránh trách nhiệm đối với chuyện thế tục, tôi còn tự thêm cho mình một lý do nghe có vẻ cao thượng rằng mình đang tu luyện. Thật đúng là dối người lại dối cả chính mình.

Trí tuệ chưa khai mở, tri kiến chưa viên dung, nên không thể đem Phật pháp hòa nhập vào đời sống. Tôi cũng từng tu khổ hạnh; ở trong núi sâu thì có thể chịu khổ tu hành, nhưng giữa chốn hồng trần lại không muốn chịu khổ, không muốn lao nhọc vì công việc, không muốn gánh chịu áp lực hay đảm đương trách nhiệm. Khi ấy, khổ hạnh đã trở thành một sự lựa chọn hữu vi, một thứ cố ý và chấp trước, thậm chí biến thành sự thỏa mãn cho tâm ham biểu hiện. Loại tri kiến không viên dung ấy khiến ngay cả khổ hạnh cũng chỉ đang tiêu hao phước báo của chính mình, kỳ thật cũng chẳng khác gì hưởng thụ nơi hồng trần, nên công đức của khổ hạnh rất khó sinh khởi.

Tôi cũng từng bố thí, sống tiết kiệm, nhưng đồng thời lại không giảm bớt được chút nào tâm tham lam của bản thân. Như vậy, sự bố thí ấy liền trở thành bố thí có sở cầu, còn tiết kiệm lại biến thành keo kiệt bỏn xẻn, nên công đức đạt được cũng vô cùng ít ỏi.

Bởi thường làm những “bề ngoài tu hành” mà nội tâm chưa thật sự chuyển hóa như thế, nên không thể nhanh chóng tích lũy công đức. Tôi cũng không cảm nhận được sự gia hộ và nâng đỡ của chư Phật, chư Bồ Tát, càng không cảm nhận được lợi ích do công đức mang lại. Nếu như ở thời kỳ ấu thơ và phản nghịch, tôi còn cảm thấy mình là đứa con được Phật pháp yêu thương, thì đến thời kỳ thanh xuân lại thấy bản thân như đứa con bị cuộc đời ruồng bỏ. Khi ấy, tâm trên đường tu luôn chìm trong được mất, phần lớn thời gian tu hành đều giống như đang làm bộ làm tịch, mang dáng vẻ đạo mạo nghiêm trang mà thôi.

Viết một bình luận