Trở về với cuộc sống thường nhật
Theo sự chấp trước đối với Phật pháp cùng công phu tu chứng ngày càng sâu, đặc biệt là khi định lực dần tăng trưởng, tạp niệm cũng theo đó mà giảm bớt. Tâm cảnh bắt đầu trở nên thanh tịnh, lòng dạ dần rộng mở, trở nên biết nhẫn nhịn và bao dung hơn. Tôi bắt đầu có thể chuyên chú làm một việc, đôi khi còn cảm nhận được niềm an lạc của sự sống trong hiện tại, dần dần nếm được “pháp vị” của sự tu chứng, tức tự thân cảm nhận được hương vị nhiệm mầu của Phật pháp. Tuy vẫn chưa thể dùng trí tuệ Phật pháp để giải quyết mọi chuyện trong đời sống, nhưng phần lớn những lúc mê lầm đều xuất phát từ tập khí và dục vọng chưa thanh tịnh, mà bản thân cũng đã có thể nhanh chóng tự kéo mình thoát ra khỏi phiền não mê thất. Tôi nhìn bản chất hư huyễn của thế gian ngày càng rõ ràng hơn, chí hướng cũng dần trở nên cao xa. Nhiều suy nghĩ và tri kiến của mình thậm chí lười chẳng muốn nói với những “người mê” xung quanh nữa; trong lòng thường có cảm giác “mọi người đều say, chỉ mình ta tỉnh”. Thân tâm ngày càng thanh tịnh, khí tiết nghiêm nhiên, không còn vì cơm áo hay dục vọng của tấm thân huyễn tạm này mà cúi mình cầu cạnh. Danh lợi tiền tài dần xem nhẹ như bùn đất, chuyện ăn ngon mặc đẹp cũng chẳng còn muốn phân biệt tính toán. Đôi lúc chịu đói cũng là chuyện thường tình, nhưng lại không cảm thấy đời sống có gì khổ sở, đối với thế giới này cũng ngày càng bớt lưu luyến. Tôi dần bước vào thời kỳ trưởng thành trên con đường tu hành.
Trong giai đoạn này, tập khí và dục vọng thật ra vẫn chưa được đoạn trừ. Sự tham cầu và chấp trước đối với việc thành đạo cũng chưa hẳn thanh tịnh hay cao thượng hơn lòng tham nơi hồng trần. Lại còn tham đắm sự thanh tịnh, không muốn quá nhiều dính mắc vào thế sự; đối với những đồng tu hợp ý thì thích thao thao luận bàn, tri kiến và lý luận nói ra nghe cao sâu khó lường, tựa như Phật Bồ Tát tái lai, trong khi “ngã mạn” vẫn luôn âm thầm theo sát chẳng rời…
Dần dần, tôi nhận ra tất cả những gì mình đang có vẫn chưa thật sự vững chắc. Trước vô số mâu thuẫn nơi chốn hồng trần, tôi vẫn chưa thể dùng tâm thanh tịnh để đối diện và xử lý một cách viên dung; đôi lúc vẫn bị dục vọng và tập khí dẫn dắt, vẫn còn bận tâm đến sự đánh giá và cái nhìn của người khác. Chỉ là ở một vài phương diện, tôi không còn quá phân biệt hay chấp nhặt nữa mà thôi, chứ “ngã chấp” thật sự vẫn chưa phá được. Vẫn luôn có một cái “ta” âm thầm chướng ngại chính mình, khiến bản thân chưa thể chân thật hòa hợp cùng vũ trụ, thiên nhiên và chúng sinh, tức chưa thể đạt đến cảnh giới “hợp nhất cùng Đạo”. Nếu chưa thể cùng chúng sinh đồng thể, chưa đạt đến vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, thì kỳ thật chúng ta vẫn chưa thể thấu triệt cội nguồn của vạn pháp, chưa thể chân thật minh liễu bản chất và chân tướng của vạn sự vạn vật. Cổ nhân nói: “Không biết diện mục thật của núi Lư, chỉ vì thân đang ở trong núi.” Muốn phá trừ ngã chấp, nhất định phải khởi tâm bác ái và đại từ bi. Muốn đi đến viên mãn, thì chính những người mà ta từng không muốn chuyện trò, từng cho là mê muội, lại có thể giúp thành tựu cho ta; cũng chỉ có chúng sinh mới có thể thành tựu cho ta mà thôi. Từ đó, chúng ta bắt đầu bước vào thời kỳ viên mãn. Tâm giác chiếu sáng tỏ, từng niệm khởi tâm động niệm đều được soi xét và sửa đổi triệt để, tựa như cạo xương trị độc, như xả thân cầu nghĩa. “Bản ngã” không diệt thì Đại Đạo khó hiển lộ. Vì thế, chúng ta quay trở lại giữa hồng trần, để tâm lộ bắt đầu lại từ đầu, trở nên bình phàm và giản dị. Từ nơi bình phàm ấy mà thể hội điều vĩ đại, dần dần trở thành một vị Bồ Tát chân thật có thể vô tư lợi ích chúng sinh. Đồng thể đại bi, vô duyên đại từ, đều từ từng chút từng chút giữa chốn hồng trần mà sinh khởi.
Đến lúc ấy, công đức chân thật mới có thể sinh khởi, và lợi ích thù thắng của công đức cũng liền hiện bày ngay trong hiện tiền.
Nước chảy hoa nở
Dương Ninh