Bài 7: Giới luật Phật giáo

Giới luật Phật giáo được chia thành hai hệ thống: Đại thừa và Tiểu thừa. Giới luật của Tiểu thừa sau này được tập trung biên soạn trong Kinh “Luật Tạng”; còn giới luật Đại thừa thì rải rác trong các kinh điển Đại thừa.

Ở Trung Quốc, nơi Phật giáo Đại thừa thịnh hành, trong giới Phật giáo có một quan niệm cho rằng người áo trắng không thể xem giới luật, tức là những đệ tử chưa thọ giới xuất gia không được phép nghiên cứu và học giới luật. Quan niệm này mang đến một sắc thái huyền bí cho học giới, trong khi Phật giáo Tiểu thừa Nam truyền thì không có qui định như vậy.

Tìm hiểu nguyên nhân, có thể tóm lược thành vài điểm: Mặc dù Phật giáo truyền vào Trung Quốc là Đại thừa, nhưng dấu hiệu nhận biết đệ tử xuất gia vẫn là thọ giới đầy đủ của Tiểu thừa: giới Tỳ-kheo 250 điều, giới Tỳ-kheo-ni 348 hoặc 500 điều. Vì giới Tiểu thừa được lập ra tại Ấn Độ, khi truyền sang Trung Quốc, do khác biệt về thời gian, văn hóa địa phương và bối cảnh xã hội, các Phật tử Trung Quốc cơ bản không thể thực hành đủ tất cả các giới luật, và e rằng người thế gian sẽ dựa vào đó để công kích tăng sĩ, phỉ báng Phật giáo.

Mặt khác, các Bồ-tát Đại thừa ở quả vị vì lợi ích chúng sinh mà dùng đủ các phương tiện thiện xảo; lời nói và hành vi của họ đôi khi không hoàn toàn phù hợp với giới luật, nhưng mục đích và tâm nguyện của họ vẫn hợp với giáo nghĩa Đại thừa. Điều này dễ khiến thế nhân phỉ báng, bôi nhọ các Bồ-tát ở quả vị, tạo nghiệp khẩu. Tuy nhiên, bất kể vì lý do gì, khi Phật pháp bước vào thế kỷ 21, việc cư sĩ học giới đã không còn hiếm, và việc nghiên cứu luật học mà không bộc lộ ra ngoài gần như không thể thực hiện được.

Giới luật Đại thừa và Tiểu thừa đều không mang tính huyền bí. Mục đích lập giới của Phật thuở xưa là để chế ngự dục vọng, thói quen của đệ tử, đồng thời quy phạm đời sống chung của tăng đoàn. Hơn nữa, việc soạn thảo các điều giới không phải hình thành trong một thời gian ngắn, mà được thiết lập theo thời và theo nơi, dựa trên việc độ hóa đệ tử và những vấn đề phát sinh trong đời sống chung của tăng đoàn. Ví dụ, trong Ngũ giới, điều không uống rượu được đặt ra vì có đệ tử sau khi say rượu đã mất chánh định, phạm tội trộm cắp, cưỡng bức, thậm chí sát nhân. Do đó, Phật dạy các đệ tử rằng uống rượu dễ khiến tâm trí mê muội, u mê, mất tự chủ, mất khả năng phân biệt và chánh niệm. Vì vậy, những Phật tử chú trọng việc khai mở trí tuệ nhờ chánh định nên tránh uống rượu.

Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, đến thời vua A-dục tại Ấn Độ, truyền thuyết nói có năm vị Đại La-hán, mỗi vị đều nhiếp trì môn đồ để hoằng dương Phật pháp, nhưng do kiến giải về giới luật chẳng đồng, nên giới luật Tiểu thừa phân thành năm bộ. Trong đó, có bốn bộ được truyền dịch sang Trung Hoa, gồm: Tiểu thừa Tát-bà-đa bộ với “Thập tụng luật”, Đàm-vô-đức bộ với “Tứ phần luật”, Bà-phú-la bộ với “Tăng-kỳ luật”, Di-sa-tắc bộ với “Ngũ phần luật”; còn Ca-diếp-di bộ luật (chưa truyền sang Trung Hoa). Ngoài ra, trong hệ Thượng tọa bộ thuộc “Phân biệt thuyết bộ” còn có “Đồng thiệp luật”…. Cùng với các bộ luật này, còn có các bản Giới bổn, như “Tứ phần giới bổn” thuộc “Tứ phần luật”. Trong đó, Giới bổn là những điều khoản chế định cụ thể mang tính cấm giới, còn Luật bổn là sự giải thích các điều khoản ấy, đồng thời nêu rõ nhân duyên, hoàn cảnh phát sinh. Yếu chỉ của giới luật Tiểu thừa đều được nhiếp trọn trong các bản Giới và Luật nêu trên.

Tùy theo sự hưng khởi của Phật giáo Đại thừa, liền xuất hiện giới luật được gọi là “Bồ-tát giới”. Trong đó, Bồ-tát giới tập trung rõ nhất ở hai hệ thống: “Phạm Võng” và “Du-già”.

“Phạm Võng Bồ-tát giới” xuất phát từ “Kinh Phạm Võng”. “Kinh Phạm Võng” vốn có một trăm hai mươi quyển, gồm sáu mươi mốt phẩm, nhưng chỉ có phẩm “Tâm Địa” được ngài Cưu-ma-la-thập đại sư dịch sang Hán văn. Phẩm “Tâm Địa” lại phân thành hai quyển: thượng quyển giảng về “Tâm địa pháp”, hạ quyển giảng về “Tâm địa giới”. Chính “Tâm địa giới” này là nguồn gốc của “Phạm Võng Bồ-tát giới”. Bộ giới này gồm có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Rất nhiều bậc Đại đức của Phật giáo truyền thừa tại Trung Hoa đã y cứ “Kinh Phạm Võng” để truyền trao Bồ-tát giới.

“Du-già Bồ-tát giới” được trích từ “Du-già Sư địa luận – Bồ-tát địa” của Luận sư Vô Trước tại Ấn Độ, do ngài Huyền Trang pháp sư dịch riêng thành một bản. Nội dung giới này được chia làm ba phần: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Trong đó, “Nhiếp luật nghi giới” thiên trọng về việc ngăn dứt điều ác, không ác nào chẳng dứt; “Nhiếp thiện pháp giới” thiên trọng về việc tu tập điều lành, lục độ vạn hạnh đồng tu; còn “Nhiêu ích hữu tình giới” dạy rằng Bồ-tát phải lấy sự tu chứng của chính mình mà lợi lạc, cứu độ tất cả hữu tình chúng sinh. Bởi vậy, “Bồ-tát giới” lại còn được gọi là “Tam tụ tịnh giới”. Trong “Du-già Bồ-tát giới” còn tuyên thuyết về “bốn loại tha thắng tội” là những tội chướng ngại đạo nghiệp của hàng Đại thừa hành giả, cùng với “bốn mươi lăm loại ác tác tội”.

Ngoài ra, Bồ-tát Hư Không Tạng đã giảng về mười bốn điều giới luật. Ngài Long Thọ Bồ-tát trong “Học Tập Luận” đã gom lại thành một bài kệ, nội dung gồm: năm tội trọng mà bậc quốc vương dễ phạm, năm tội trọng mà hàng đại thần dễ phạm, tám tội mà người phàm thường hay mắc phải, tổng cộng là mười tám tội. Lại thêm việc “xả bỏ nguyện Bồ-đề tâm và hành Bồ-đề tâm”, thì tổng cộng mở rộng thành hai mươi điều Bồ-tát đọa tội.

Hai mươi điều giới được triển khai trong “Kinh Hư Không Tạng” cùng với “Du-già Bồ-tát Giới” chính là những điều được truyền thống Phật giáo Tây Tạng đặc biệt coi trọng khi thọ giới Bồ-tát.

Vậy thì, sự sai khác chủ yếu giữa giới luật Đại thừa và Tiểu thừa là ở chỗ nào?

Trọng tâm được nhấn mạnh vốn chẳng đồng nhau. Giới luật Tiểu thừa đặt nặng nơi phòng phi chỉ ác. Giới luật Đại thừa thì nhấn mạnh ở chỗ rộng tu các công hạnh lành. Giới Tiểu thừa lấy “hành vi” làm trọng, còn giới Đại thừa thì lấy “tâm tính” làm gốc.

Đối với Phật pháp Tiểu thừa, Thiện hạnh là hành giả tự thân phải thực hiện nơi hành vi: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không hủy báng người khác… Tóm lại, cần phải chánh thân, chánh ngữ, chánh ý, chỉ cần giữ đúng nơi hành vi thì được xem là trì giới, nhờ đó mà dần dần đạt đến sự thanh tịnh, đoạn trừ tham – sân – si trong nội tâm.

Đối với Phật pháp Đại thừa, thiện hạnh là những hành vi được khởi phát từ tâm từ bi đối với hết thảy “hữu tình chúng sinh” trong ba ngàn đại thiên thế giới. Trọng tâm đặt nơi sự phát khởi Bồ-đề tâm và từ bi tâm. Giới Đại thừa nhấn mạnh: nếu nơi tâm tánh chưa làm được, thì dù nơi hành vi có thể hiện, cũng vẫn là phá giới. Cổ đức có câu: “Trong ngực tình chấp chưa rỗng, bên ngoài lễ nghi giữ cũng uổng công.” Đây chính là chỗ quán chiếu của Đại thừa. Hành giả Đại thừa tin rằng tâm tướng vốn vô lượng, thì giới luật cũng vô lượng; năm trăm giới điều, tám vạn oai nghi, sáu ngàn tế hạnh… rốt ráo cũng chẳng thể quy định một cách trọn vẹn, không sai sót, để ràng buộc hết thảy tâm hành của mỗi hành giả. Do vậy, mỗi đệ tử Phật đều phải lấy “tâm” làm giới thể, Phát khởi từ nội tâm chân thật mà chí thành hành trì các cấm giới, tức là “nhiếp tâm làm giới”

Giới Đại thừa lấy phát tâm và động cơ làm trọng. Trong sự tu chứng của Phật pháp Tiểu thừa, bất luận động cơ của hành giả là gì, hễ tạo tác hành vi bất thiện thì đều gọi là phá giới. Nhưng đối với hành giả Đại thừa, chỉ cần vì lợi ích chúng sinh, vì sự hưng thịnh của Phật pháp, thì bất kỳ hành vi nào cũng đều có thể trở thành thiện hạnh. Thế nhưng, rốt ráo thế nào mới thật là hành vi lợi ích chúng sinh? Điều này không có một ranh giới xác định rõ ràng. Tuy nhiên, đối với việc gì là trợ duyên cho đạo, và việc gì là nghịch duyên chướng đạo, thì vẫn có những giới hạn nhất định. Tuy nhiên, vào thời mạt pháp, cũng có những hành giả Đại thừa nương vào lý do ấy mà tự biện hộ cho hành vi của mình. Bởi lẽ, nhiều khi hành giả khó thể tự minh định đâu là động cơ chân chính trong nội tâm. Có khi khởi tâm vốn là thiện, song khi hành sự lại xen tạp nhiều ngã dục riêng tư, khiến cho thiện hạnh bị thiên lệch, thậm chí chiêu cảm quả bất thiện. Do vậy, hành giả Đại thừa cần phải lấy trí tuệ làm dẫn đạo, mới có thể chuyển hóa mọi hành vi thành thiện hạnh chân chánh, vừa lợi lạc hữu tình, lại vừa trợ duyên cho đạo nghiệp Bồ-đề.

Bồ-tát giới không chỉ dành cho hàng xuất gia, mà còn có thể truyền trao cho cả Phật tử tại gia — tức là hàng cư sĩ. Ở Trung Hoa, người xuất gia đều phải thọ Tiểu thừa “Cụ túc giới” trước, rồi sau đó mới thọ “Bồ-tát giới”. Người chưa xuất gia thì không thể thọ “Cụ túc giới”. Nghi thức thọ giới: đối với “Cụ túc giới” cần có tam sư thất chứng, còn đối với “Bồ-tát giới” thì chỉ cần một vị Bồ-tát giới sư truyền thọ là đủ.

Việc trì giới trong Phật pháp chẳng đồng với các thiện hạnh thế gian. Trong đời sống thường nhật, người hành thiện chưa hẳn đã dứt ác, kẻ dứt ác cũng chưa chắc đã hành thiện. Nhưng người trì Bồ-tát giới thì tất yếu phải đồng thời ngăn ác và tu thiện.

Khi nào hành giả vĩnh viễn đoạn dứt tâm tạo ác, khi ấy sự trì giới mới được viên mãn.

Mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh

Mười giới trọng:

Giới thứ nhất: Giới sát sinh.

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Nhược tự sát, giáo nhân sát, phương tiện sát, tán thán sát, kiến tác tùy hỷ, nãi chí chú sát; sát nhân, sát duyên, sát pháp, sát nghiệp. Nãi tự nhất thiết hữu mệnh giả, bất đắc cố sát. Thị Bồ Tát ứng khởi thường trụ từ bi tâm, hiếu thuận tâm, phương tiện cứu hộ nhất thiết chúng sanh, nhi phản tự ý khoái lạc sát sanh giả, thị Bồ Tát phạm Ba-la-di tội.

Tội Ba-la-di là tội sát hại con người, súc sanh và hết thảy chúng sinh hữu tình, đứng hàng đầu trong mười ác nghiệp, đồng thời là một trong Ngũ giới, Bát giới và Thập giới. Trong Đại thừa, để tránh sát sinh, cấm ăn thịt và lấy việc phóng sinh làm biểu hiện tích cực của thiện hạnh. Theo “Đại trí độ luận” quyển 13, trong các tội, sát sinh là nặng nhất; trong các công đức, không sát sinh đứng đầu; trong thế gian, biết quý trọng mạng sống cũng là thù thắng nhất. Việc đoạn mạng sống của con người hay súc sanh, dù tự tay sát hay dạy người khác sát, đều phạm cùng một tội. Tỳ-kheo sát nhân phạm tứ Ba-la-di; tự sát tạo tội Thâu-lan-giá; tự làm tổn thương thân thể tạo tội Đột-kiết-la; sát hại súc sanh phạm tội Ba-dật-đề (tội sám hối). Tất cả những ai phạm giới sát sinh, sau khi mạng chung sẽ rơi vào tam ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; ngay cả nếu tái sinh làm người, cũng khó tránh khỏi bệnh tật và thọ mạng ngắn ngủi.

Giữ giới không sát sinh dựa vào hai lý do: một là phát tâm từ bi, hai là để tránh tạo ác nghiệp sát sinh. Từ Phật giáo Nguyên thủy đến Đại thừa, đều nhấn mạnh điều này, và trở thành một trong những mục đích thực hành quan trọng nhất của người Phật tử. Ở Ấn Độ, nhiều quốc vương đứng trên lập trường Phật giáo đã thực hành không sát sinh. Ở nước ta, trong các kinh như “Kinh Phạm Võng”, “Kinh Kim Quang Minh”, “Kinh Niết-bàn”, “Kinh Lăng Nghiêm”…, giáo lý về không sát sinh, không ăn thịt đã có ảnh hưởng sâu rộng; đồng thời, nhà Nho cũng đề cao lòng trắc ẩn là khởi điểm của “Nhân”, lòng từ bi lan tỏa đến cả loài vật, nên xưa kia các bậc minh quân hành đạo nhân từ, cũng ban chiếu cấm sát sinh, để biểu thị đức từ bi quảng đại. Việc này thường được áp dụng trong các thời gian trai giới hay gần các chùa linh thiêng. Trong “Phật Tổ Thống Kỷ” quyển 52, mục phóng sinh và cấm sát, liệt kê nhiều ví dụ về cấm sát sinh. Như vua Lương Văn Đế, Bắc Ngụy Hiến Văn Đế, Tùy Văn Đế, Tống Thần Tông… từng thực hành cấm sát và phóng sinh. Ngoài ra, Đại sư Trí Giả từng hoằng hóa hơn một nghìn nơi, khiến người bỏ nghề đánh bắt cá; lại như pháp sư Yên Khang Trí của Tứ Minh, hàng năm tổ chức phóng sinh để cử hành lễ Phật đản.

Giới thứ hai: Giới trộm cắp.

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự đạo, giáo nhân đạo, phương tiện đạo, chú đạo. Đạo nhân, đạo duyên, đạo pháp, đạo nghiệp. Nãi chí quỷ thần hữu chủ kiếp tặc vật, nhất thiết tài vật, nhất châm nhất thảo, bất đắc cố đạo. Nhi Bồ Tát ứng sanh Phật tánh, hiếu thuận tâm, từ bi tâm, thường trợ nhất thiết nhân sinh phúc sinh lạc, nhi phản cánh đạo nhân tài vật giả, thị Bồ Tát Ba-la-di tội.

Không được cho mà tự ý lấy, gọi là trộm cắp; dịch mới gọi là “không được lấy mà lấy”. Ý chỉ việc dùng sức lực hay mưu kế chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong mười ác nghiệp thân, khẩu, ý (thập ác), trộm cắp cùng với sát sinh và tà dâm đều thuộc về thân nghiệp. Giới luật nghiêm cấm trộm cắp; nếu phạm, nặng như chiếm đoạt trên năm đồng tiền, thì phạm tội Ba-la-di (tội nặng như chém đầu). Trong thập ác và Ngũ giới, trộm cắp chỉ xếp sau sát sinh. Theo cựu dịch “Kinh Hoa Nghiêm” (quyển 24, phẩm “Thập địa”), tội trộm cắp khiến chúng sinh rơi vào tam ác đạo; nếu sinh làm người, phải chịu hai quả báo: nghèo khó và mất tài sản, không được tự tại.

Giới thứ ba: Giới tà dâm (dâm dục).

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự dâm, giáo nhân dâm, nãi chí nhất thiết nữ nhân, bất đắc cố dâm. Dâm nhân, dâm duyên, dâm pháp, dâm nghiệp. Nãi chí súc sinh nữ, chư thiên quỷ thần nữ, cập phi đạo hành dâm. Bồ-tát nên khởi tâm hiếu thuận, cứu độ hết thảy chúng sinh, đem pháp thanh tịnh trao cho người. Trái lại, nếu khởi tâm khiến mọi người hành dâm, chẳng lựa loài súc sinh, cho đến cùng mẹ, con gái, chị em, sáu thân quyến mà hành dâm, không có tâm từ bi, thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Hựu tác Dục tà hạnh. Vi thập ác chi nhất. Nghĩa là, đối với người tại gia thì đây là một trong các ác hạnh không được làm. Nói về nam giới, tức là cùng với người nữ khác ngoài vợ mình mà hành dâm; lại dù cùng với vợ, nhưng hành nơi không thích hợp về thời gian, chỗ chốn, hay phương cách, cũng đều là tà dâm. Theo kinh Trung A-hàm, quyển năm mươi, Kinh Bồ-lợi-đa chép: kẻ hành tà dâm ắt phải chịu ác báo ngay trong đời này và cả ở đời sau.

Giới thứ tư: Giới vọng ngữ.

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự vọng ngữ, giáo nhân vọng ngữ. Vọng ngữ nhân, vọng ngữ duyên, vọng ngữ pháp, vọng ngữ nghiệp. Nãi chí bất kiến ngôn kiến, kiến ngôn bất kiến, thân tâm vọng ngữ. Nhi Bồ-tát thường sanh chánh ngữ, chánh kiến, diệc sanh nhất thiết chúng sanh chánh ngữ, chánh kiến. Nhi phản cánh khởi nhất thiết chúng sanh tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp giả, thị Bồ-tát Ba-la-di tội.

Là một trong mười ác. Lại còn gọi là cố vọng ngữ, hư vọng ngữ, hư cuống ngữ, vọng thiệt, hư ngụy, khi. Chỉ cho lời nói hư vọng với mục đích dối gạt người. Giới vọng ngữ là một trong năm giới, mười giới. Theo “Tứ phần luật”, quyển mười một ghi: vọng ngữ thuộc tội Ba-dật-đề (phải sám hối trước chúng Tăng), đây là loại tiểu vọng ngữ (lời dối trá không thật). Lại theo cùng sách, quyển hai chép: kẻ chưa chứng Bồ-đề mà vọng xưng là đã chứng Bồ-đề (tức là dối xưng chứng đắc Phật đạo), thì phạm tội Ba-la-di (tội cực trọng, bị khai trừ khỏi Tăng đoàn), đây là loại đại vọng ngữ (chưa được nói được, chưa chứng nói chứng). Ngoài ra, theo Đại trí độ luận, quyển mười ba chép: kẻ phạm giới vọng ngữ mà không có tâm tàm quý, thì tự cắt đứt con đường đến Niết-bàn và sinh thiên, lại phải chịu mười thứ tội: hơi miệng hôi, thiện thần xa lìa, v.v… gọi là vọng ngữ thập tội.

Trong Phật giáo, “sát, đạo, dâm, vọng” được gọi là bốn tội căn bản tánh. Về “vọng ngữ”, luận nói rằng: “Vọng ngữ giả, bất tịnh tâm dục cuống tha, phú ẩn thật, xuất dị ngữ, sanh khẩu nghiệp, thị danh vọng ngữ… Vọng ngữ chi nhân, tiên tự cuống thân, nhiên hậu cuống nhân. Dĩ thật vi hư, dĩ hư vi thật, hư thật điên đảo, bất thọ thiện pháp, thí như phúc bình, thủy bất đắc nhập. Vọng ngữ chi nhân, tâm vô tàm quý, bế tắc thiên đạo Niết-bàn chi môn… Thật ngữ chi nhân, kỳ tâm đoan trực; kỳ tâm đoan trực, dịch đắc miễn khổ, thí như trù lâm duệ mộc, trực giả dịch xuất.” Hậu duyên dụng kỳ nghĩa, chỉ thuyết giả thoại, hồ thuyết. Như “Lương thư Hà Viễn truyện”: “Mỗi hí ngữ nhân vân: ‘Khanh năng đắc ngã nhất vọng ngữ, tắc tạ khanh dĩ nhất kiêm.’ Chúng cộng tứ chi, bất năng ký dã.”

Do bởi đời trước đã phạm vọng ngữ, nên trong đời này phải thọ nhận hai thứ quả báo. Như trong “Pháp Viện Châu Lâm”, quyển bảy mươi có ghi rằng:

(1)        Đa bị phỉ báng, chỉ nhân tiền thế bất vụ thành thật, vọng ngữ vô tín, cố cảm đắc kim sanh đa bị tha nhân phỉ báng;

(Giảng nghĩa: Vì đời trước không giữ lời chân thật, hay vọng ngữ, nên đời này thường bị người phỉ báng).

(2)        Vi nhân sở cuống, chỉ nhân tiền thế chuyên dĩ vọng ngữ khi cuống ư nhân, cố cảm đắc kim sanh vi nhân chi sở cuống hoặc.

(Giảng nghĩa: Vì đời trước hay dùng lời dối trá lừa gạt người, nên đời này phải chịu quả báo thường bị kẻ khác lừa gạt, mê hoặc).

Giới thứ 5: Cô tửu giới (Giới cấm rượu)

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự cô tửu, giáo nhân cô tửu. Cô tửu nhân, cô tửu duyên, cô tửu pháp, cô tửu nghiệp. Nhất thiết tửu, bất đắc cô, thị tửu khởi tội nhân duyên. Nhi Bồ Tát ưng sanh nhất thiết chúng sanh minh đạt chi huệ; nhi phản cánh sanh nhất thiết chúng sanh điên đảo chi tâm giả, thị Bồ Tát Ba-la-di tội.

Rượu là gốc rễ sanh khởi mê loạn và tội lỗi, nên cả Tiểu thừa, Đại thừa, bảy chúng xuất gia và tại gia đều bị cấm uống. Theo “Tứ phần luật”, quyển 16 có ghi rằng: khi Phật ở nước Chi-đà, Tỳ-kheo Sa-già-đà đến nhà vua nước Câu-thiệm-di thọ trai, được dâng rượu đen, uống xong trở về liền té ngã, ói mửa. Phật biết liền chế giới cấm Tỳ-kheo uống rượu, nếu phạm mắc tội Ba-dật-đề. Đức Phật còn dạy rõ mười tội lỗi do uống rượu: sắc diện xấu ác, sức lực suy yếu, mắt nhìn không sáng, hiện tướng giận dữ, làm hư hoại ruộng vườn tài sản, tăng thêm bệnh tật, gây ra đấu tranh kiện tụng, ác danh lan truyền, trí tuệ giảm sút, và khi mạng chung đọa vào ba đường ác. Đây gọi là mười tội lỗi của việc uống rượu.

Giới thứ sáu: Giới nói lỗi của bốn chúng

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Khẩu tự thuyết xuất gia, tại gia Bồ-tát, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tội quá, giáo nhân thuyết tội quá. Tội quá nhân, tội quá duyên, tội quá pháp, tội quá nghiệp. Nhi Bồ-tát văn ngoại đạo ác nhân cập Nhị thừa ác nhân, thuyết Phật pháp trung phi pháp phi luật, thường sanh từ tâm, giáo hóa thị ác nhân bối, lịnh sanh Đại thừa thiện tín. Nhi Bồ-tát phản cánh tự thuyết Phật pháp trung tội quá giả, thị Bồ-tát Ba-la-di tội.

Giới thứ sáu trong Thập trọng cấm giới. Giới này được chế lập nhằm ngăn ngừa việc bàn luận, phỉ báng lỗi lầm của bốn chúng đệ tử Phật: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Giới này còn được gọi là ‘giới nói lỗi đức hạnh của bốn chúng’, cũng gọi là ‘giới nói lỗi Bồ-tát tại gia và xuất gia’, hay ‘giới nói tội lỗi của người khác’. Lược gọi là ‘giới nói lỗi’. Trong “Phạm Võng Kinh – Bồ-tát giới bản sớ” quyển hai có giải rõ ý chế giới này: bởi vì nói lỗi bốn chúng có thể làm hư hoại niềm tin, chiêu cảm oán kết nặng nề, quay lưng với ân đức Tam bảo, cho nên cần phải chế giới để ngăn cấm. Trong “Ưu-bà-tắc giới kinh” quyển ba, phẩm Thọ giới, xếp giới này là giới trọng thứ năm, trong sáu pháp trọng của Ưu-bà-tắc, còn giới thứ sáu là giới cấm rượu. Theo ý trong “Y Nghĩa Tịch Bồ-tát kinh – Bồ-tát giới bản sớ” quyển thượng, thì giới này cùng với giới cấm rượu là giới trọng đối với Bồ-tát tại gia, nhưng đối với Tỳ-kheo xuất gia thì chỉ thuộc về tội nhẹ.

Giới thứ bảy: Giới tự tán thán, hủy báng người

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự tán hủy tha, diệc giáo nhân tự tán hủy tha. Hủy tha nhân, hủy tha duyên, hủy tha pháp, hủy tha nghiệp. Nhi Bồ-tát ưng đãi nhất thiết chúng sanh thọ gia hủy nhục, ác sự hướng tự kỷ, hảo sự dữ tha nhân; nhược tự dương kỷ đức, ẩn tha nhân hảo sự, lịnh tha nhân thọ nhục giả, thị Bồ-tát Ba-la-di tội.

Chỉ tán thán kỷ đức nhi cơ hủy tha nhân. Đây chính là giới trọng thứ bảy trong Thập trọng cấm giới của Bồ-tát, gọi là giới tự tán hủy tha. Trong “Kinh Đại Bát Niết-bàn” (bản ba quyển), quyển thượng có nêu ra bảy pháp thù thắng, trong đó có lời dạy: “Kiến phi đồng học, bất sinh tăng tật” (Khi thấy người không đồng học với mình, cũng không khởi tâm ghét bỏ hay ganh tỵ). Trong “Bồ Tát Địa Trì Kinh” quyển 5, “Ưu-bà-tắc Ngũ Giới Uy Nghi Kinh”, “Bồ Tát Giới Bản” (do ngài Đàm Vô Sấm dịch) v.v…, đều xem “tự khen mình, chê bai người” là một trong bốn tội Ba-la-di. Còn trong “Bồ Tát Thiện Giới Kinh” thì xếp vào tám tội Ba-la-di.

Theo “Phạm Võng Kinh” quyển hạ: Nếu đệ tử Phật tự khen mình mà chê bai người, hoặc xúi giục người khác tự khen mình chê bai người, như chê bai nhân, duyên, pháp, nghiệp của người… và các việc tổn hại khác, thì Bồ Tát phải phát tâm đại bi, thay tất cả chúng sinh gánh chịu những sự hủy nhục đó. Người tu hành phải đem điều xấu về mình, đem điều lành cho người. Nếu tự đề cao công đức của mình, che giấu điều tốt của người khiến họ bị chê bai, thì liền phạm vào tội Ba-la-di của Bồ Tát.

Giới thứ tám: Giới xan tham hủy báng.

Nguyên văn: Hiển giáo thập trọng cấm giới chi nhất. Hựu tác Khiên sanh hủy nhục giới, Khiên tích tài pháp giới, Cố khiên gia hủy giới, Khiên giới, Bất khiên giới. Tức chế chỉ khiên tích tài, pháp, bất dữ ư tha sở cầu, thả phản gia hủy nhục chi giới. Nhược Phật tử, tự khiên, giáo nhân khiên, khiên nhân, khiên duyên, khiên pháp, khiên nghiệp. Nhi Bồ-tát kiến nhất thiết bần cùng nhân lai khất giả, tùy tiền nhân sở nhu, nhất thiết dữ chi. Nhi Bồ-tát dĩ ác tâm, sân tâm, nãi chí bất thí nhất tiền, nhất châm, nhất thảo; hữu cầu pháp giả, bất vị thuyết nhất cú, nhất kệ, nhất vi trần hứa pháp, nhi phản canh nhục mạ giả, thị Bồ-tát Ba-la-di tội.*

Giảng nghĩa: Đây là một trong mười giới trọng của Hiển giáo, còn gọi là giới khiên sanh hủy nhục, khiên tích tài pháp, cố khiên gia hủy, hoặc gọi tắt khiên giới, bất khiên giới. Tức là ngăn cấm sự keo kiệt tài vật, pháp nghĩa, không chịu bố thí cho người cầu xin, lại còn thêm sự hủy nhục. Nếu Phật tử tự mình keo kiệt, hoặc dạy người khác keo kiệt — tức có nhân, duyên, pháp, nghiệp của keo kiệt — mà Bồ-tát khi thấy kẻ nghèo khổ đến cầu xin thì phải tùy theo nhu cầu mà cấp cho họ. Nếu Bồ-tát lại khởi tâm ác, tâm sân, cho đến không thí một đồng tiền, một cây kim, một cọng cỏ; hoặc có người cầu pháp mà không chịu vì họ nói một câu, một bài kệ, một mảy trần pháp, lại còn nhục mạ, thì đó là phạm tội Ba-la-di của Bồ-tát.)

Giới thứ chín: Giới sân tâm bất thọ hối.

Giới thứ chín trong Thập trọng giới. Còn gọi là “Sân bất thọ hối giới”, “Sân bất thọ tạ giới”, hay “Cố sân giới”. Giới điều này được chế định nhằm ngăn ngừa tâm sân hận, không chịu nhận lỗi hay sự sám hối, tạ lỗi của người khác.

Nguyên văn: Nhược Phật tử tự sân, giáo nhân sân, sân nhân, sân duyên, sân pháp, sân nghiệp, nhi Bồ-tát ưng sinh nhất thiết chúng sanh trung thiện căn vô tranh chi sự, thường sinh bi tâm; nhi phản canh ư nhất thiết chúng sanh trung, nãi chí ư phi chúng sanh trung, dĩ ác khẩu mạ nhục, gia dĩ thủ đả, cập dĩ đao trượng, ý do bất tức; tiền nhân cầu hối, thiện ngôn sám tạ, diệc sân bất giải giả, thị Bồ-tát Ba-la-di tội.” Trong Pháp Tàng tại “Phạm Võng Kinh — Bồ-tát Giới Bản Sớ” quyển bốn, rõ ràng giải thích mười ý chế định của giới này, tức là: ① Sân tâm trong mê hoặc là nặng nhất; ② Sinh ra nghiệp ác, là nhân duyên dẫn đến ác đạo, ác thú; ③ Thiêu đốt tất cả thiện căn từ nhiều đời trước; ④ Kết thành oán lớn, nhiều kiếp khó giải; ⑤ Do đó có thể hại tất cả chúng sinh; ⑥ Tạo thành tội vô gián; ⑦ Ngăn trở nhẫn hạnh Ba-la-mật của Bồ-tát; ⑧ Làm tổn hại đại bi tâm của Bồ-tát; ⑨ Khiến chúng sinh được hóa độ đều lìa bỏ; ⑩ Sinh đủ các trở ngại trăm nghìn pháp. Ngoài ra, “Bồ-tát Địa Trì Kinh” quyển năm, “Du-già Sư Địa Luận” quyển bốn mươi, “Ưu-bà-tắc Ngũ Giới Uy Nghi Kinh”, và “Bồ-tát Giới Bản” do Đàm Vô Sấm dịch, đều xem giới này là một trong bốn tội Ba-la-di; “Bồ-tát Thiện Giới Kinh” xem là một trong tám pháp trọng; còn “Bồ-tát Nội Giới Kinh” thì xếp là một trong bốn mươi bảy giới.

Giới thứ mười: Giới phỉ báng Tam Bảo.

Nguyên văn: Nhược Phật tử! Tự báng Tam Bảo, giáo nhân báng Tam Bảo. Báng nhân, báng duyên, báng pháp, báng nghiệp. Nhi Bồ Tát kiến ngoại đạo cập dĩ ác nhân, nhất ngôn báng Phật âm thanh, như tam bách mâu thích tâm. Huống khẩu tự báng, bất sanh tín tâm, hiếu thuận tâm, nhi phản cánh trợ ác nhân, tà kiến nhân báng giả, thị Bồ Tát Ba-la-di tội.

Hiển giáo là một trong Thập trọng cấm giới, tức giới ngăn cấm phỉ báng Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Còn gọi là hủy báng Tam Bảo giới, trợ báng Tam Bảo giới, báng loạn chính pháp giới, phỉ báng giới, báng Bồ-tát pháp giới, hay tà kiến tà thuyết giới. Theo Thắng Trang trong “Phạm Võng Kinh — Bồ-tát Giới Bản Sớ Ký” quyển hai, phỉ báng Tam Bảo tức là: phỉ báng Phật không phải bậc trí toàn giác, Phật không phải thực có; phỉ báng thập nhị phần giáo và Tứ đế cùng các giáo pháp; phỉ báng các A-la-hán, Bồ-tát Tăng trong thế gian là không chân thực. Ngoài ra, theo Pháp Tàng trong “Phạm Võng Kinh — Bồ-tát Giới Bản Sớ” quyển hai, ý nghĩa chế định của giới này gồm mười điểm, trong đó nặng nhất là nghiệp đạo. Giới này, theo “Bồ-tát Giới Bản” do Đàm Vô Sấm dịch, “Bồ-tát Địa Trì Kinh” quyển năm (phần Phương tiện), và “Bồ-tát Thiện Giới Kinh”, gọi là giới báng loạn chính pháp, tức là phá hoại nhân quả, hủy báng Tam Bảo, phỉ báng Đại thừa, tất cả đều thuộc trọng tội.

Tứ thập bát khinh giới

① Bất kính sư hữu giới;② Ẩm tửu giới;③ Thực nhục giới;④ Thực ngũ tân giới;⑤ Bất sám hối tội giới;⑥ Bất cung cấp thỉnh pháp giới;⑦ Bất vãng thính pháp giới;⑧ Tâm bội Đại thừa giới;⑨ Bất khán bệnh giới;⑩ Súc sát chúng sinh cụ giới(sát sinh khí cụ như liệp thương, ngư lưới…);⑪ Quốc sứ giới(quân trung hành, làm tuyên chiến sứ giả);⑫ Phàn mại giới;⑬ Phỉ báng giới;⑭ Phóng hỏa thiêu hoán giới;⑮ Tạp giáo giới(bất dĩ Đại thừa viên đốn chánh pháp giáo nhân);⑯ Vi lợi đảo thuyết giới(đương đáp bất đáp, vô tiền vô hậu);⑰ Sử thế cầu cử giới;⑱ Vô giải tác sư giới(đọc kinh học kinh tất giải kinh, hành pháp song hành);⑲ Lưỡng thiệt giới;⑳ Bất hành phóng cứu giới;㉑ Tân đả báo thù giới;㉒ Kiêu mạn bất thỉnh pháp giới;㉓ Kiêu mạn tạp thuyết giới;㉔ Bất tập học Phật giới;㉕ Bất thiện tri chúng giới;㉖ Độc thụ lợi dưỡng tội;㉗ Thụ biệt thỉnh giới(cá vị tăng thụ thí chủ độc thỉnh);㉘ Biệt thỉnh tăng giới;㉙ Tà mệnh tự giới;㉚ Bất kính hảo thời giới;㉛ Bất hành cứu độ giới;㉜ Tổn hại chúng sinh giới;㉝ Tà nghiệp giác quan giới;㉞ Tạm niệm tiểu thừa giới;㉟ Bất phát nguyện giới;㊱ Bất phát thệ giới;㊲ Mạo nan du hành giới;㊳ Qua tôn ti thứ tự giới;㊴ Bất tu phước huệ giới;㊵ Kiển trạch thụ giới giới;㊶ Vi lợi tác sư giới;㊷ Vi ác nhân thuyết giới giới;㊸ Vô hổ thụ thí giới;㊹ Bất cúng dường kinh điển giới;㊺ Bất hóa chúng sinh giới;㊻ Thuyết pháp bất như pháp giới;㊼ Phi pháp chế hạn giới;㊽ Phá pháp giới.

Giới Bồ-tát Du-già được phân làm “tứ chủng tha thắng tội” và “tứ thập ngũ chủng ác tác tội”:

Tứ chủng tha thắng tội:

1. Dùng tâm tham mà tự tán dương bản thân, phỉ báng người khác.

2. Dùng tâm keo kiệt mà không bố thí tài pháp.

3. Dùng tâm sân hận mà tổn hại người, lại không tiếp nhận sám hối của người khác.

4. Dùng tâm ngu si vô tri mà bỏ bỏ giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni, tự sáng lập ra pháp hư giả, và tuyên dương pháp của mình là có lợi cho chúng sinh.

Hai mươi tội điều khiến Bồ-tát sa đọa (chọn từ “Hư Không Tạng Kinh”) – Năm loại định tội mà quốc vương dễ phạm:

1. Cưỡng đoạt tài vật của Tam Bảo.

2. Xả bỏ Phật Pháp;

3. Đối với Tỳ-kheo phá giới hoặc chưa phá giới, dùng phương thức có ý hay vô ý mà đánh đập, hủy hoại, cưỡng đoạt y phục tam y cà-sa, hoặc giam vào ngục, ra án tử hình, ép buộc xuất tục… (cư sĩ thọ giới dẫn dụ người xuất gia trở về tục cũng phạm Bồ-tát giới).

4. Phạm ngũ vô gián tội: sát hại cha, sát hại mẹ, sát hại A-la-hán, phá hoại Tăng hòa hợp, làm chảy máu thân Phật;

5. Chấp giữ mọi tà kiến;

Năm định tội mà các đại thần dễ phạm:

1. Cưỡng đoạt tài vật của Tam Bảo.

2. Xả bỏ Phật Pháp;

3. Đối với Tỳ-kheo phá giới hoặc chưa phá giới, dùng phương thức có ý hay vô ý mà đánh đập, hủy hoại, cưỡng đoạt y phục tam y cà-sa, hoặc giam vào ngục, ra án tử hình, ép buộc xuất tục… (cư sĩ thọ giới dẫn dụ người xuất gia trở về tục cũng phạm Bồ-tát giới).

4. Phạm ngũ vô gián tội: sát hại cha, sát hại mẹ, sát hại A-la-hán, phá hoại Tăng hòa hợp, làm chảy máu thân Phật;

5. Tội phá hoại thành trấn.

Tám giới luật mà người phàm dễ phạm:

1. Không được giảng pháp về Không cho những người chưa tu tâm;

2. Không được khiến người tu Phật mất hạnh Bồ-đề viên mãn;

3. Không bỏ pháp xuất thế gian mà đi tu Đại thừa một cách tùy tiện;

4. Không truyền pháp Tiểu thừa cho người không có khả năng đoạn ái dục;

5. Không khoe công đức mình để cầu lợi, mà hạ bệ người khác;

6. Giả danh nhẫn nhục mà nói lời đảo điên;

7. Trừng phạt Tăng, hoặc hối lộ và nhận hối lộ từ Tam Bảo;

8.  Khiến người tu từ bỏ tĩnh lự, lợi dưỡng cúng dường cho người nghe pháp bị bỏ phí.

Viết một bình luận