Trong thời hiện đại, rất nhiều hành giả khi mới bắt đầu học tập, tiếp xúc với giáo lý Kinh, Luật, Luận của Phật pháp, đa phần chỉ thấy đó là những khái niệm và thuật ngữ trừu tượng. Trừ những bậc thượng căn thượng trí có thể ngay khi nghe Phật pháp liền chứng ngộ, thọ ích, thì phần nhiều chúng ta không thể tức thời đạt được sự an ổn nội tâm và giải thoát phiền não từ giáo lý, thậm chí đôi khi còn chưa thành tựu được chánh tín, mà trái lại còn cảm thấy có những đạo lý khô khan khó hiểu. Vì sao vậy? Bởi tất cả sự chỉ dạy của Đại thừa Phật pháp hầu như đều liên hệ đến thực chứng. Chỉ khi nào chúng ta có thể chuyển hóa những lý thuyết khái niệm ấy thành “sự giác ngộ nội tại của sinh mệnh” thì mới có thể viên mãn thấu triệt Phật lý, cũng như mới thật sự được lợi ích từ giáo lý Phật pháp. “Quá trình nội chứng sinh mệnh” này, dưới sự hướng dẫn của chánh tri kiến Phật pháp, chính là điều mà chúng ta gọi là thiền định hay thiền tu trong đạo Phật.
Ngoài Phật giáo, trong các tôn giáo hay học phái khác cũng có khái niệm “thiền định”. Thế nhưng, do lập trường tư tưởng và đường lối chỉ đạo khác biệt, nên kết quả của sự tu tập thiền định cũng hoàn toàn không giống nhau. Thiền định và thiền tu rốt ráo trong Phật pháp là khác hẳn với thiền định của các tôn giáo khác. Chẳng hạn, ngay từ khởi điểm, thiền định trong Phật pháp đã đặt nền tảng chỉ đạo trên tư tưởng “vô ngã”; trên con đường Bồ-tát đạo, ngay từ bước đầu nơi kiến địa đã phá trừ sạch sẽ cả “tiểu ngã”, “đại ngã” cho đến “Phạm ngã”. Vì vậy, trong Kinh Hoa Nghiêm mới dạy rằng: Bồ-tát sơ phát tâm tức thành chánh giác.
Có người quy nạp nội dung Phật pháp thành ba môn học: Giới, Định, Tuệ. Vì thế, thiền định giữ vai trò hết sức trọng yếu trong sự tu chứng của Phật pháp. Có thể nói, thiền định chính là chiếc cầu nối giữa lý thuyết Phật pháp và sự thực hành trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Nếu hành giả Đại thừa không có sức định lực, chỉ dựa vào sự hiểu biết lý thuyết thì không thể vận dụng một cách viên dung trí tuệ của Phật vào sinh hoạt thường nhật, cũng không thể chứng ngộ rốt ráo và thấu triệt trí tuệ của Như Lai. Thiếu định lực, nhiều giáo lý của Phật pháp chỉ còn là lời nói suông; dẫu cho hành giả Đại thừa có biện tài vô ngại, khẩu xuất như dòng suối tuôn chảy, đôi khi cũng khó chống đỡ nổi sự nhiễm ô và cám dỗ muôn mặt của thế tục đối với thân tâm. Không có định lực, Bồ-tát Đại thừa chẳng thể viên mãn cảnh giới “chân không sinh diệu hữu”, sẽ thiếu mất thần thông cùng nhiều phương tiện thiện xảo, không thể tùy cơ nhiếp hóa, khế hợp căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, và khó lòng thành tựu hoằng nguyện phổ độ chúng sinh.
Vì vậy, học tập và tu trì thiền định là con đường tất yếu mà mỗi hành giả Đại thừa phải đi qua trên lộ trình Bồ-tát đạo. Hành giả tu học thiền định là để viên mãn trí tuệ tự thân, đồng thời cũng để thực hiện hoằng nguyện cứu độ, lợi ích cho muôn loài, và xiển dương Phật pháp.