Duy Thức Kiến xuất phát từ một tông phái trọng yếu của Đại thừa Phật pháp — ‘Đại thừa Du-già Hành Phái’. Theo truyền thuyết, người sáng lập Du-già Hành Phái là Bồ-tát Di-lặc. Nhưng tại nhân gian, hai vị đại diện quan trọng truyền bá Du-già Hành Phái là hai huynh đệ Vô Trước và Thế Thân (khoảng thế kỷ 4–5). Duy Thức Kiến đưa ra quan điểm: ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’
‘Du-già’ nghĩa là sự tương ưng; ‘Du-già Hành’ là pháp môn và thứ tự giải thoát thông qua hình tướng của quán tâm thức mà chứng đạt chân tánh pháp giới. Thực hành Du-già Hành theo những kiến giải khác nhau sẽ tạo nên các phái Du-già Hành tương ứng với từng kiến giải. Bồ-tát Vô Trước, căn cứ vào quan điểm Du-già Hành của Bồ-tát Di-lặc, xác lập thứ tự tu đạo, thiết lập “Duy Thức” nơi nội thức, thiết lập “Pháp Tướng” nơi ngoại cảnh. Bồ-tát Thế Thân chuyên truyền bá “Duy Thức”. Đại dịch sư Huyền Trang của Trung Quốc khi học tập tại Ấn Độ chủ yếu nghiên cứu giáo lý Duy Thức. Vì vậy, tại đất Hán của Trung Quốc, Đại thừa Phật pháp đặc biệt chú trọng truyền bá lý thuyết của Tông phái “Duy Thức Du-già Hành”.
Các lý thuyết trọng yếu của Tông phái Duy Thức Du-già Hành gồm: Duy Thức Vô Cảnh, Tam Tánh và Tam Vô Tánh, Tứ Phần, Chuyển Thức Thành Trí, Ngũ Vị Bách Pháp, v.v.
Duy Thức Vô Cảnh cho rằng: Mọi sự vật chỉ là cảnh bên ngoài hiển hiện từ sự biến chuyển của ý thức, vốn không thực tại. Thức có thể phân làm tám thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức. Tám thức này lại được chia thành ba loại: sáu thức trước gọi là ‘liễu biệt cảnh thức’, mỗi thức nắm bắt các đối tượng trong phạm vi tác dụng của mình là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; mạt-na thức gọi là “tư lượng thức”, chủ yếu tư lượng a-lại-da thức thành “ngã”, đồng thời phát sinh bốn thứ phiền não liên quan đến “ngã” (là ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái). A-lại-da thức gọi là “chủng tử thức”, là nguồn gốc của muôn pháp, cũng là căn bản của các thức khác, đồng thời là chủ thể trong tiến trình nghiệp báo luân hồi và sự tiếp nối của mạng sống. Hơn nữa, các hành giả chính thống của Du-già Hành Tông cho rằng đối với “thức” cũng không nên chấp cho là thực hữu, nếu không cũng là một thứ “pháp chấp”. Như vậy, thực chất là bước vào tư tưởng Trung Đạo “vạn pháp đều không”.
“Tam Tánh” và “Tam Vô Tánh” biểu thị những quan niệm tương tự nhau. Tam Tánh là Biến Kế Sở Chấp Tánh (nghĩa là con người không nhận thức được Duy Thức Vô Cảnh, nên từ nhiều phương diện “toàn biến kế đo lường”, mà hư vọng cho rằng các hiện tượng bên ngoài thế gian là thật có). Y Tha Khởi Tánh (vì sự vật khởi lên nhờ duyên, nên không có tự tánh), Viên Thành Thật Tánh (bản tánh chân thật của thức, hiển hiện nhờ tánh không, là trạng thái viên mãn thành tựu); Tam Vô Tánh là Tướng Vô Tánh (vì con người nhận thức sự vật là hư vọng, nên những ‘tướng trạng’ mà nhận thức chấp là thật, thực ra vốn không), Sinh Vô Tánh (những gì khởi lên nhờ duyên không thể có tự thể hay chủ thể thật), Thắng Nghĩa Vô Tánh (đạt đến chân lý tối thượng của sự vật là ‘vô tự tánh’ hay ‘chân như’).
Tứ phần gồm: Kiến phần, Tướng phần, Tự chứng phần, Chứng tự chứng phần. Kiến phần chỉ bản thể nhận thức có khả năng hướng ra ngoại duyên; Tướng phần chỉ đối tượng nhận thức, đối tượng này không tồn tại độc lập hay tách biệt với nhận thức, mà là sự hiển hiện của nhận thức tự thân; Tự chứng phần là sự chứng tri của bản thể nhận thức đối với tác dụng của kiến phần trên tướng phần; Chứng tự chứng phần là sự chứng tri của bản thể nhận thức đối với tự chứng phần , và tác dụng của chính nó cũng có thể được tự chứng phần chứng tri. Ngoài Tứ phần thuyết, tông phái này còn có Nhất phần thuyết, Nhị phần thuyết và Tam phần thuyết.
Chuyển Thức Thành Trí là chuyển hóa tám thức hữu lậu thành tám thức vô lậu, nhằm đạt tới các tầng bậc trí tuệ khác nhau. Cụ thể: khi chuyển năm thức đầu trong tám thức từ hữu lậu thành vô lậu, được gọi là Thành sở tác trí; khi chuyển thức thứ sáu từ hữu lậu thành vô lậu, được gọi là Diệu quan sát trí; khi chuyển thức Mạt na từ hữu lậu thành vô lậu, được gọi là Bình đẳng tánh trí; khi chuyển thức A lại da từ hữu lậu thành vô lậu, được gọi là Đại viên cảnh trí.
Ngũ vị bách pháp là thuyết phân loại các pháp hay hiện tượng của tất cả chúng sinh do tông phái Duy Thức Yoga hành lập ra.
Ngũ vị chỉ năm hạng mục chính mà tất cả các pháp đều được phân vào; Bách pháp là khái niệm một trăm pháp được phân thuộc dưới Ngũ vị.
Ngũ vị gồm: tâm pháp, tâm sở pháp, sắc pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Tâm pháp chỉ tâm tự tánh, gồm tám thức như đã nêu trên. Tâm sở pháp là các hành sở của tâm, gồm 51 pháp, như thọ, tưởng, định, tham, sân, mạn, vô minh, nghi, ngủ, v.v. Sắc pháp là hiện tượng vật chất, gồm 11 pháp, như ngũ căn, ngũ trần, v.v. Tâm bất tương ưng hành pháp là những pháp phi sắc phi tâm, cũng không phải tâm sở, thuộc hành uẩn, gồm 24 pháp, như sinh, lão, bệnh, tử, vô thường, phương, thời, số, v.v. Vô vi pháp là các pháp không sinh, không trụ, khác biệt, diệt, không có nhân duyên, gồm 6 pháp, như Hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, chân như vô vi, v.v.