Tam giới trong Phật giáo chỉ dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Sinh mệnh trong ba giới này được chia thành lục đạo, gồm: thiên đạo, a-tu-la đạo, nhân đạo, súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo. Chúng sinh trong lục đạo luân hồi liên tục, sinh tồn trong các cõi này, không thể thoát ra khỏi tam giới. Khổ vui trong ba giới không ngừng biến chuyển. Ở một số cõi chỉ có niềm vui, một số cõi chỉ có khổ, còn nhân đạo thì vừa có vui vừa có khổ. Trong mắt Phật, chúng sinh luân hồi không ngừng trong tam giới lục đạo; niềm vui không thể kéo dài mãi, thoáng chốc đã mất. Khi chịu khổ, thời gian trôi qua như dài cả năm, không thấy lối thoát, vì vậy tam giới được gọi chung là biển khổ. Chỉ khi thành Phật, mới có thể vượt ra ngoài tam giới, tận hưởng niềm vui và tự tại vĩnh hằng.
Chúng sinh ở dục giới có các dục vọng mạnh mẽ như tình dục, thực dục và nhiều loại ham muốn khác. Những chúng sinh cư trú trong dục giới bao gồm tất cả các sinh mệnh của lục đạo: gồm chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhân đạo, a-tu-la và các chúng sinh ở sáu tầng trời của dục giới. Hình thái sinh mệnh của chúng sinh dục giới tương đối thô kệch; các ham muốn sinh ra nhiều tập khí, không có định lực, tâm thường dao động bất an. Chúng không có khả năng nhập vào sắc giới hay vô sắc giới, và vẫn chịu luân hồi sinh tử.
Chúng sinh ở sắc giới không có dục vọng như thực dục, dâm dục và các ham muốn khác, thường sống trong an lạc, họ vẫn có thân hình, nhưng không thô kệch như chúng sinh dục giới, mà là hóa thân vi tế bằng ánh sáng. Sinh mệnh và mọi đối tượng tâm niệm của họ đều hóa hiện từ ánh sáng. Con người cho rằng chúng sinh sắc giới bẩm sinh đã sở hữu định lực mà chúng ta phải tu tập mới đạt được, vì vậy sinh mệnh ở cõi này được chia theo mức định lực thành bốn tầng trời, gọi là tứ thiền thiên. Tứ thiền thiên lại chia thành mười tám xứ. Chúng sinh sắc giới vẫn chịu luân hồi sinh tử.
Chúng sinh ở vô sắc giới không có các ham muốn, cũng không có thân thể như con người tưởng tượng, nhưng vẫn có ý thức. Sinh mệnh ở cõi này thường trú trong bốn trạng thái không định, tâm niệm tùy duyên hiện tiền. Chỉ cần động niệm, mọi sự đều tự nhiên hiện ra trước mắt, không cần hóa thân bằng ánh sáng. Bất kỳ hình thái vật chất nào, kể cả ánh sáng, âm thanh, cũng không thể ràng buộc họ. Sinh mệnh vô sắc giới vẫn có sinh diệt, nên vẫn chịu luân hồi sinh tử.
Con người chúng ta hiện đang cư trú ở dục giới. Trong dục giới, nếu luân hồi một cách tự nhiên, nơi tốt nhất để sinh là sáu tầng trời của dục giới, nhưng để đạt được điều đó, chúng ta cần tích lũy nhiều thiện nghiệp, chẳng hạn như năm giới, mười thiện, bố thí và các công đức từ thiện khác theo giáo pháp Phật. Chỉ có như vậy mới hy vọng luân hồi vào các tầng trời của dục giới. Nếu muốn trong tương lai được sinh vào sắc giới hoặc vô sắc giới, cần phải tu tập tứ thiền bát định. Nhưng trong mắt Phật, cả ba giới đều không ổn định, đều là “ngôi nhà lửa”. Ngay cả khi chúng ta được sinh vào vô sắc giới cũng không lâu dài, cuối cùng một ngày nào đó vẫn phải thoát định, khi đó lại tiếp tục luân hồi trong tam giới theo nghiệp lực không ngừng.
Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta không nên mê luyến các cám dỗ của tam giới, những kích thích và niềm vui ngắn ngủi, mà cần phát nguyện giải thoát khỏi tam giới. Trong các cõi đa chiều, còn có nhiều thế giới hóa hiện từ công đức của báo thân Phật để chúng sinh lựa chọn. Những thế giới đó vĩnh viễn tràn đầy hỷ lạc, chẳng hạn như Cực Lạc Tây Phương. Khi chúng ta thành Phật, dù vì lòng từ bi vẫn lựa chọn trở lại thế giới Ta-bà, nhưng trong mắt người thành Phật, tất cả mọi sự trong tam giới chỉ là ảo cảnh, do tâm phân biệt và chấp trước của chúng sinh mà hiện ra. Nhờ trí tuệ và thần lực của quả vị Phật, có thể tự giác giác tha, cứu độ chúng sinh; dễ dàng nhập tam giới mà không mê hoặc, khi lâm chung không bị nghiệp lực chi phối. Vì vậy, muốn giải thoát khỏi tam giới, cần học trí tuệ của Phật và sở hữu thần lực của Phật.
SƠ ĐỒ TAM GIỚI LỤC ĐẠO
| Vô sắc giới (tứ xứ) (cõi trời) | Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên Vô sở hữu xứ thiên Thức vô biên xứ thiên Không vô biên xứ thiên |
| Sắc giới (17 xứ) (cõi trời) | Tứ thiền gồm tám tầng trời: Vô vân thiên, Phúc sinh thiên, Quảng quả thiên, Vô phiền thiên, Vô tưởng thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện hiện thiên, Thiện kiến thiên và Sắc cứu cánh thiên; Tam thiền gồm ba tầng trời: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên và Biến tịnh thiên Nhị thiền gồm ba tầng trời: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên và Quang âm thiên Sơ thiền gồm ba tầng trời: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên. |
| Dục giới (20 xứ) (Bao gồm tất cả chúng sinh lục đạo; trong các tầng trời dục giới có cả chúng sinh A-tu-la đạo) | Các tầng trời (6 xứ) gồm: Tứ Thiên Vương thiên, Đâu-lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đẩu-sổ thiên, Lạc biến hóa thiên và Tha hóa tự tại thiên Nhân đạo (4 xứ) gồm: Đông Thắng Thần Châu, Nam Chiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc Câu Lâu Châu. Súc sinh đạo (1 xứ) Ngạ quỷ đạo (1 xứ) Địa ngục đạo (8 xứ) gồm: Đẳng hoạt địa ngục, Hắc thừng địa ngục, Chúng hợp địa ngục, Hao khiếu địa ngục, Đại hao địa ngục, Viêm nhiệt địa ngục, Cực nhiệt địa ngục và Vô gián địa ngục. |
“Luân hồi” là chỉ việc chúng sinh dưới sự chi phối của nghiệp lực, chết rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, sinh tử liên tục, như bánh xe chuyển động không ngừng, tuần hoàn không dứt.
Quan niệm luân hồi trong Phật giáo chủ yếu chỉ lục đạo luân hồi, gồm: thiên đạo, a-tu-la đạo, nhân đạo, súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo. Nếu chúng sinh không đoạn trừ vô minh và không chứng đắc trí tuệ của Phật, sẽ mãi luân hồi trong sáu đạo này.
Trong lục đạo của dục giới, luân hồi của chúng sinh có bốn phương thức sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh. Còn sắc giới và vô sắc giới phải nhờ Thiền định lực mà vãng sinh, sinh mệnh chủ yếu hóa hiện từ ánh sáng và do tâm niệm mà sinh ra.
(1) Trong thiên đạo, chúng sinh thiên đạo thọ mạng lâu dài, không có phiền não, sống tự tại tự do, đứng đầu trong lục đạo và thuộc loại hóa sinh.
(2) Chúng sinh a-tu-la đạo có phúc lạc như thiên nhân nhưng không có đức hạnh của thiên nhân. Tuổi thọ cũng dài, bản tính nhiều nghi ngờ, dễ ganh ghét, thích tranh đấu, hay tranh mạnh hơn kẻ khác, thường chiến đấu với các thiên, và thuộc loại hóa sinh.
(3) Chúng sinh nhân đạo phải chịu tám khổ, gồm: sinh, lão, bệnh, tử, cầu không được khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ và ngũ uẩn thịnh khổ. Nhưng con người có khả năng nhẫn chịu, nên thấy đời mình vừa khổ vừa vui. Chúng sinh nhân đạo đều sinh bằng thai.
(4) Chúng sinh súc sinh đạo phân bố trên trời, mặt đất, dưới đất và trong nước. Chúng phổ biến ngu si, chịu khổ nhiều hơn con người. Có bốn phương thức sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh.
(5) Chúng sinh ngạ quỷ có tuổi thọ không cố định, một số ngạ quỷ sống tới hàng vạn năm. Chúng thường trú trong bóng tối, chịu khổ đói rét triền miên. Chia thành ba loại chính: ngoại chướng quỷ, nội chướng quỷ và ẩm thực chướng quỷ. Ngoại chướng quỷ thường gặp nhiều chướng ngại bên ngoài khiến không thể ăn được; nội chướng quỷ miệng phun lửa, họng hẹp như lỗ kim, dù thấy thức ăn cũng không nuốt được; ẩm thực chướng quỷ, khi nhìn thấy bất kỳ thức ăn nào, thức ăn lập tức hóa thành lửa, binh khí hoặc những vật không thể ăn được.
(6) Chúng sinh địa ngục là cõi khổ nhất trong lục đạo. Phật giáo chia địa ngục thành bốn phần chính: tám đại địa ngục nóng, tám đại địa ngục lạnh, địa ngục cận biên và địa ngục cô độc. Ngoại trừ địa ngục cô độc, các địa ngục khác đều do nghiệp ác chung của chúng sinh tạo ra. Trong địa ngục, chúng sinh liên tục cảm thọ khổ, gần như không có phút giây hạnh phúc. Những kẻ tạo nghiệp ác nặng nhất phải trải qua hàng chục vạn tỷ năm mới có khả năng rời khỏi địa ngục và tái sinh vào các đạo khác.
Chúng sinh ngạ quỷ và địa ngục đều sa đọa nơi đây vì nghiệp ác và quả báo ác nghiệp của chúng sinh đã chín muồi.