Tứ Diệu Đế là bốn chân lý mà Đức Phật thuyết giảng. Nội dung gồm: Khổ, Tập, Diệt và Đạo. Nói về Khổ:
Trong Phật pháp cho rằng, đối với chúng sinh ở tam giới, tam giới đều là biển khổ, và khổ được tổng hợp thành ba loại: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
Khổ khổ là khi chúng sinh thường trú trong các khổ đau như đói rét triền miên, kinh hãi sợ hãi, chịu tra tấn cực hình… gần như không có niềm vui. Chúng sinh địa ngục và ngạ quỷ trải nghiệm loại khổ này mạnh mẽ nhất. Loại khổ này có ở chúng sinh dục giới, nhưng không có ở sắc giới và vô sắc giới.
Hoại khổ là nỗi khổ mà chúng sinh phải chịu do mọi sự vật biến hóa, vô thường mang đến, ví dụ như con người mắc bệnh, lão hóa, mất đi tài sản hay tình ái, và tử vong… Loại khổ này có ở dục giới và sắc giới, nhưng vô sắc giới vì vô thân nên không có khổ này.
Hành khổ là khổ sinh ra khi chúng sinh nhận thức rằng sự sống và mọi sự vật đều không ngừng biến đổi, khiến cho khát vọng về sự sống vĩnh hằng không bao giờ thỏa mãn. Hành khổ có ở cả tam giới, nhưng chúng sinh dục giới thường nhận thức nông cạn, hoặc thậm chí không nhận ra khổ này. Chúng sinh sắc giới và vô sắc giới nhận thức sâu sắc hơn.
Đối với nhân đạo, khổ lại được chia thành tám khổ: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ uẩn thịnh khổ.
Sinh khổ là khổ khi con người chịu đau trong thời kỳ thai nhi và khi sinh ra. Trẻ sơ sinh có cảm nhận khổ đau nhưng không thể diễn đạt. Khi trẻ biết nói, lại quên đi nỗi khổ lúc ở trong bụng mẹ và lúc sinh ra.
Lão khổ là khổ khi con người bước vào tuổi già: tóc bạc, răng rụng, cơ nhão, các giác quan suy giảm, trí lực mờ mịt, bệnh tật thường xuyên, dần tiến đến cái chết.
Bệnh khổ là khổ khi thân thể con người phải chịu sự tra tấn của đủ loại bệnh tật. Rất hiếm người cả đời chưa từng mắc một lần bệnh.
Tử khổ là khổ khi con người cuối cùng phải chết, và cái chết xảy ra vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với con người, dù chết vì lý do gì, đều là điều đau khổ.
Oán tắng hội khổ là khổ khi con người sống trong đời, gặp phải người hoặc việc mà mình oán ghét, muốn tránh xa nhưng lại không thể tách rời, không thể thoát ly, nên phát sinh đau khổ.
Ái biệt ly khổ là khổ khi con người sống trong đời, phải chia ly với người mình yêu thương vì nhiều nguyên nhân, không thể gặp lại, hoặc đau khổ do người yêu thương qua đời.
Cầu bất đắc khổ là khổ phát sinh khi con người bị các dục vọng thúc đẩy mà cầu mong điều gì đó, nhưng không đạt được, dẫn đến đau khổ.
Ngũ uẩn xí thịnh khổ: Ngũ uẩn là chỉ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ngũ uẩn xí thịnh khổ có thể nói là nỗi khổ được tổng hợp từ bảy khổ trước mà sinh ra. Trong đời người, khổ sinh, lão, bệnh, tử là không thể tránh; oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ mỗi người đều trải nghiệm ở mức độ khác nhau, cuối cùng tập hợp lại thành ngũ uẩn xí thịnh khổ, sinh ra đau khổ.
Đây là Khổ đế mà Đức Phật mới bắt đầu thuyết pháp, truyền dạy cho các đệ tử. Ngài chỉ mong các đệ tử khởi tâm xuất ly khỏi các nỗi khổ, phát tâm cầu giải thoát ra khỏi luân hồi.
Về Tập đế:
Trong Tứ Thánh Đế, chân lý thứ hai chính là Tập đế. Tập đế chỉ rõ rằng, do nhiều nhân duyên hội tụ mà thành tựu quả khổ cho chúng sanh. Song, quy nạp tất cả các nhân duyên ấy, cội gốc chủ yếu vẫn là sự hiện hữu của ba độc tham, sân, si.
Tham chính là sự tham luyến, chấp trước của chúng sanh nơi Tam giới. Do bởi tham mà chúng sanh vĩnh viễn không biết mãn túc;
Sân là khi chúng sanh đối với những gì không vừa ý trong Tam giới mà khởi tâm yêu ghét, phân biệt. Sân khiến chúng sanh sinh khởi lòng ganh ghét và ác ý.
Si là sự khuyết thất trí tuệ viên mãn của chúng sanh. Do si nên chúng sanh đối với vạn pháp trong thế gian mà khởi lên nhận thức sai lầm, phiến diện, chấp vào tự ngã.
Chúng sanh do nơi tác động của tham, sân, si tam độc mà tạo thành vô lượng nghiệp lực. Lại do nghiệp lực dẫn dắt, nên đời đời kiếp kiếp luân hồi trong tam giới, phải thọ nhận các quả báo khổ đau.
Thí như, khi Đức Phật giảng rằng con người do hội đủ nhiều nhân duyên mà từ sinh đến tử lưu chuyển trong luân hồi, đó chính là “Thuyết Thập nhị nhân duyên”. Nội dung gồm: vô minh → hành → thức → danh sắc → lục nhập → xúc → thọ → ái → thủ → hữu → sinh → lão tử.
Ý nghĩa của “Thập nhị nhân duyên” là: khi chúng ta hỏi Đức Phật vì sao con người phải già, phải chết, thì Ngài dạy rằng, bởi vì con người có sinh, mà hễ có sinh ắt sẽ có già chết.
Vì sao lại có sự sinh khởi? Đức Phật dạy rằng do nơi “hữu”. Chữ “hữu” ở đây chính là chỉ sức dẫn dắt của nghiệp lực, khiến con người phải thân bất do kỷ.
Vì sao lại có nghiệp lực? Đức Phật dạy rằng là do nơi “thủ”. “Thủ” nghĩa là chúng sanh đối với năm dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc mà khởi tâm chấp trước, truy cầu và nắm giữ. Chính sự truy cầu và chấp thủ ấy liền tạo ra các thứ nghiệp.
Vì sao con người lại chấp trước truy cầu những điều ấy? Ấy là do nơi “ái”, tức là “dục vọng”.
Vì sao con người lại khởi sanh dục vọng? Ấy là bởi nơi con người đối với mọi sự đều có cảm nhận từ giác quan cùng cảm thọ nơi thân tâm.
Vì sao lại khởi sanh cảm thọ? Ấy là do sự xúc cảnh.
Thế nào là xúc cảnh? Ấy là bởi con người có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu căn khi đối diện với mọi sự ở thế gian, Phật pháp gọi đó là sáu trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, liền khởi phân biệt và chấp trước, đó gọi là “lục nhập”.
Vì sao lại có “lục nhập”? Ấy là do có “danh sắc”. “Danh sắc” tức là cái gọi là “tự ngã”. Phàm phu chúng sanh chấp trước cho rằng, thân xác và tâm thức sinh diệt không ngừng này chính là “tự ngã”. Song, trong Phật pháp cho rằng, cái gọi là “tự ngã” ấy chỉ là một danh tướng giả lập, không có tự thể vĩnh hằng bất biến; vì thế gọi là “danh sắc”, cũng gọi là “giả ngã”.
Vì sao lại có cái “giả ngã” ấy tồn tại? Ấy là do nơi “thức”. “Thức” chính là một niệm do nghiệp lực từ đời quá khứ dẫn dắt mà sinh khởi nơi thụ thai của đời hiện tại, nương vào “trung hữu thân” mà kết thành “sanh hữu thân”.
Vì sao lại có “thức”? Ấy là do nơi “hành”. “Hành” tức là sự vô thường biến đổi của tâm ý, vì biến đổi không ngừng mà khởi lên các vọng niệm, tạo nên các nghiệp, từ đó chiêu cảm các quả báo.
Vì sao lại có “hành”? Sự biến đổi vô thường ấy là do nơi “vô minh”. “Vô minh” tức là không rõ biết chân tướng của vạn pháp, thiếu vắng trí tuệ.
Cho nên, rốt ráo Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta một chân lý: muốn thoát ly sinh tử, rốt cùng cần phải thành tựu trí tuệ của Như Lai. (Hàng Tiểu thừa như Bích-chi Phật, Duyên-giác Phật, do tư duy “Thập nhị nhân duyên pháp” mà cho rằng chỉ cần đoạn trừ một “duyên” nào đó thì vòng luân hồi sinh tử sẽ không còn thành lập, nhờ đó có thể chứng đắc “cảnh giới Niết-bàn giải thoát”. Song, đây chưa phải là kiến địa cứu cánh. Bởi trong pháp kiến cứu cánh của Phật, hết thảy các “duyên” vốn chỉ là giả thuyết, các “duyên” ấy cũng đều hư huyễn. Như Bích-chi Phật, Duyên-giác Phật không thể chứng nhập được kiến địa rằng “duyên cũng là hư huyễn, thật không có cái duyên nào để đoạn”, thì chẳng thể nào chứng được Niết-bàn cứu cánh của chư Phật.
Pháp Thập nhị Duyên khởi chính là sự giải thích sâu sắc của Tứ Diệu Đế. Về Diệt đế:
Chân lý thứ ba trong Tứ Diệu Đế là Diệt Đế. “Diệt” chính là ý dịch của chữ Phạn “Niết-bàn”. Trong tiếng Phạn và tiếng Pāli, “Niết-bàn” mang nghĩa dập tắt, diệt tận, thổi tắt, ví như ngọn lửa được dập tắt. Trong giáo pháp, tham, sân, si được xem là ba ngọn lửa độc; trong con mắt của bậc Thánh, tất cả thế gian đều bị ngọn lửa ba độc thiêu đốt, không một khoảnh khắc an nghỉ. Bậc Thánh giả vĩnh viễn đoạn trừ “nghiệp nhân” do “tự ngã” cùng các căn bản phiền não như “tham sân si” tạo tác, chứng đắc cảnh giới tịch diệt, giải thoát cảnh giới luân hồi, gọi là Niết-bàn. Đây cũng chính là phương hướng và mục đích mà hàng Tiểu thừa hành giả cầu chứng. Tuy nhiên, trong giáo pháp lại gọi cảnh giới A-la-hán mà Tiểu thừa hành giả chứng đắc là “Hữu dư Niết-bàn”. Bởi vì, tuy cảnh giới A-la-hán nhờ sức thiền định có thể ngăn chặn dòng sanh tử trong một thời gian khá dài, nhưng vẫn chưa thể rốt ráo thoát ly luân hồi. Niết-bàn chẳng phải chờ sau khi thân hoại mạng chung mới thành tựu, mà ngay trong đời này cũng có thể chứng đắc.
Về Đạo đế:
Chân lý thứ tư trong Tứ Diệu Đế là Đạo Đế. Đạo Đế chính là lời Phật dạy chúng ta: muốn thoát ly các khổ não như sanh, lão, bệnh, tử, cần phải tu đạo. Suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sinh, Đức Phật tùy theo căn cơ sai biệt của chúng sanh mà tuyên thuyết nhiều pháp môn tu đạo, chứng đạo. Trong Phật pháp Tiểu thừa có ba mươi bảy phẩm Bồ-đề đạo là điều trọng yếu cần phải thông đạt.