Tu Chứng Phật Pháp III. Làm Thế Nào Để Tu Chứng Phật Pháp (4)

Trong toàn bộ quá trình vượt qua sự trói buộc của tình dục, có một thứ lớp nhất định. Làm thế nào để vượt qua sự cám dỗ của ngoại cảnh đối với thân tâm? Trước hết, ở giai đoạn đầu của sự tu chứng là “giác mà không động”, nghĩa là bạn cảm nhận được, nhận biết được tất cả, nhưng tâm không được dao động. Bạn vẫn có thể nghe thấy mọi âm thanh, vẫn có thể cảm nhận mọi trải nghiệm, thậm chí đối với từng nụ cười hay từng ánh mắt của người khác hướng về mình, trong tâm đều biết rõ. Nhưng phải “giác mà không động”, tâm không khởi phân biệt. Không thể vừa nghe một âm thanh liền phân biệt đó là thiện hay ác; bên ngoài có một tiếng động liền phân biệt đó là tiếng xe hơi hay tiếng xe lửa. Tất cả những điều ấy đều là phân biệt. Âm thanh vẫn nghe được, nhưng tâm không được động theo. Đó là bước đầu của sự tu hành: “giác mà không động”. Sau đó, nhờ “giác mà không động”, định lực sẽ dần dần tăng trưởng. Khi sự tĩnh lặng được duy trì đủ lâu, tự nhiên sẽ tiến đến trạng thái “động mà không trụ”. Tức là có thể động, nhưng không trụ chấp vào cảnh giới ấy. Tuy nhiên, có những sự việc cần chúng ta an trụ trong đó để xử lý, và khi an trụ thì phải đạt đến “tức hữu tức không”. Từ “động mà không trụ”, đến “trụ mà tức hữu tức không”, rồi từ “tức hữu tức không” tiến đến sự hiển hiện của “sắc không bất nhị”; đó chính là một thứ lớp trong toàn bộ tiến trình tu chứng. Nhưng những điều này cần phải được chỉ dẫn cụ thể từng bước trong quá trình thực hành và thể nghiệm. Những gì nói ở đây chỉ là một sự trình bày khái quát để mọi người cùng hiểu qua. Đây là một con đường đưa thân tâm đến giải thoát và tu chứng, nhưng con đường ấy tuyệt nhiên không thể thành tựu trong một sớm một chiều.

Vì vậy, trên phương diện cảnh giới và nhận thức, trước hết phải có chánh niệm và chánh kiến. Trước tiên cần hiểu và duy trì chánh niệm, chánh kiến. Chẳng hạn, trong Phật pháp có những phương pháp đối trị sự lôi kéo của ngũ uẩn như quán vô thường, quán khổ, quán không và quán vô ngã. Bởi vì chúng ta bị các cảm thọ ấy lôi kéo nên rời khỏi sự tu chứng, cho nên cần ngồi lại quán chiếu rằng mọi sự trong thế gian đều vô thường, có rất nhiều điều chúng ta không thể nắm giữ được; ngay cả tình dục cũng chỉ là một cảm giác hư huyễn, hư huyễn như chính cái “tự ngã” vậy. Đức Phật dạy rằng con người có “mười khổ”: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ (tức là hằng ngày phải đối diện với những người mình không ưa thích, còn người mình yêu thích thì không được gặp; gặp gỡ những người mình oán ghét gọi là oán tắng hội khổ), ái biệt ly khổ (người mình yêu quý lại ở xa mình, thường xuyên phải chia lìa, đó gọi là ái biệt ly khổ), cầu bất đắc khổ (mong cầu điều gì mà không đạt được điều ấy), ngũ uẩn xí thạnh khổ (những nỗi khổ phát sinh từ các cảm thọ của thân tâm như đau, lạnh, tê, trướng hoặc sự bức bách của ngũ uẩn), hoại khổ (đây là một cảnh giới của chư thiên; các chúng sinh ở cõi quang âm có quang hóa thân, nhưng quang hóa thân ấy một ngày nào đó cũng sẽ hoại diệt. Vì họ vẫn còn ở trong thời không, mà trong thời không thì vẫn có sinh diệt, cho nên ánh sáng ấy cũng sẽ tan hoại. Khi mạng sống chấm dứt, quang hóa thân ấy bị hoại mất, đó gọi là hoại khổ), và hành khổ (cũng thuộc cảnh giới chư thiên; những chúng sinh tu đến tầng trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ sống trong cõi ba động, nơi đó một niệm chính là một sinh mệnh, một dao động của ý niệm cũng là một sinh mệnh. Họ không còn quang hóa thân hay thân vật chất nữa, nhưng vì sự dao động vẫn không ngừng nên gọi là hành khổ. Họ muốn an trụ bất động, nhưng sự dao động ấy vẫn kéo dài liên tục. Cũng giống như định tịch diệt của A-la-hán có thể kéo dài qua vô số đại kiếp, nhưng cuối cùng vẫn phải xuất định. Chỉ cần ý thức khởi động thì đó là hành khổ; một khi vận hành trở lại thì liền từ trạng thái ấy thoát ra. Sau khi xuất định, họ cảm thấy vô cùng khổ nhọc. Vì vậy, hành khổ ở đây chủ yếu chỉ nỗi khổ thuộc về phương diện ý thức.)

Có lúc con người chỉ cảm nhận được tám khổ; còn hoại khổ và hành khổ thì chúng ta hầu như không cảm nhận được. Chúng ta không cho rằng sự sinh diệt nơi tầng ý thức là khổ. Ý thức sinh diệt thì cứ sinh diệt, biến đổi thì cứ biến đổi, bởi tâm thức chúng ta quá thô phù nên không cảm nhận được rằng ngay sự sinh diệt của ý thức cũng là một nỗi khổ. Vì vậy, chúng ta có thể tự quán tưởng và suy ngẫm: đời người vốn là như thế, đầy những nhọc nhằn và khổ lụy. Nhìn lại quãng đời đã qua, khi đã bước vào tuổi trung niên, ngoảnh đầu nhìn lại năm tháng cũ, mọi thứ dường như chỉ thoáng chốc trôi qua như một giấc mộng. Có lúc cảm thấy mình dường như chưa làm được điều gì thật sự có giá trị và ý nghĩa cho sinh mệnh; sống trong mơ hồ, để thời gian lặng lẽ trôi qua giữa ăn uống, vui chơi và hưởng thụ. Mà vài chục năm phía trước chưa chắc đã tốt đẹp hơn hiện tại. Hãy nghĩ đến lúc tuổi già, thân thể suy yếu, tinh thần mờ mịt, bệnh tật quấn thân; liệu khi ấy chúng ta có thật sự sống vui vẻ hơn những năm tháng trước đó hay không? Vì vậy, chúng ta vẫn nên nắm lấy thời gian để tu hành, đừng để tâm mình tiếp tục tán loạn và vọng tưởng không ngừng. Hãy vì tương lai của chính mình, vì đời sau của chính mình mà tích lũy thêm một chút phước báo và công đức. Đức Phật dạy rằng: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh.” Đến lúc lâm chung, chúng ta không thể mang theo bất cứ thứ gì, chỉ có nghiệp lực theo mình. Vậy nghiệp lực là gì? Tất cả những hành vi của thân, khẩu và ý đều là nghiệp lực. Trong đó có thiện nghiệp, vô ký nghiệp và ác nghiệp; tất cả đều thuộc về nghiệp. Khi nhân duyên chín muồi, mọi nghiệp đều sẽ hiện thành quả báo. Thiện nghiệp hiện thiện quả, ác nghiệp hiện ác quả, vô ký nghiệp hiện quả báo vô ký. Vì thế, tất cả những điều này đều cần được chúng ta nghiêm túc quán chiếu và đối diện.

Đức Phật dạy rằng con người có thể tu chứng đạt đến cảnh giới “vô ngã”. Khi đạt đến tầng bậc ấy, chúng ta có thể giải thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp lực và thoát ra khỏi vòng luân hồi. Nếu hiện nay chúng ta đang có đầy đủ những điều kiện thuận lợi để tu hành, thì nên nhất tâm nhất ý chuyên chú vào việc tu chứng, không nên tiếp tục khởi lên bất kỳ tà niệm nào vì muốn thỏa mãn dục vọng ích kỷ của bản thân mà bất chấp mọi hậu quả.

Ngoài ra, việc xây dựng một lý tưởng và mục tiêu cao cả cũng là một trong những phương pháp tốt nhất để vượt qua sự lôi kéo của tình dục. Tôi nhớ đã từng xem một bộ phim nói về thời kỳ chiến tranh cách mạng ở Trung Quốc. Trong phim có một người chiến sĩ cách mạng bị giam trong ngục thất. Trước khi bước ra pháp trường, ông đã viết lên tường một bài thơ: “Sinh mệnh thành khả quý, ái tình giá cánh cao; nhược vị tự do cố, nhị giả giai khả phao.” Khi ấy, lúc xem bộ phim đó tôi còn nhỏ, trong lòng tự hỏi “tự do” mà ông nói là gì? Ngay cả sinh mạng cũng không còn nữa, vậy còn cần tự do để làm gì? Tự do chẳng phải là điều dành cho người đang sống hay sao? Về sau tôi mới hiểu rằng “tự do” ở đây là một loại tín niệm. Chẳng hạn, ông muốn thay đổi thế giới này, muốn thay đổi những điều mà ông cho là bất công và đen tối; nếu những điều ấy vẫn còn tồn tại thì ông cho rằng mình chưa có tự do. Ở đây, chúng ta không bàn đến việc tín niệm mà ông theo đuổi là đúng hay sai, mà chỉ muốn nói rằng: nếu một người có thể vì tín niệm của mình mà từ bỏ cả sinh mạng và người mình yêu quý, thì sự lôi kéo của tình dục đối với người ấy sẽ trở nên rất yếu. Điều này khiến tôi nghĩ đến một vấn đề trong đời sống thực tế. Nếu một người tu hành lúc nào cũng chỉ chú ý đến cảm thọ của bản thân, quan tâm đến người mình yêu và người yêu mình, luôn luôn đặt tâm nơi những cảm thọ của thân tâm mình; nếu tâm chỉ xoay quanh “ta” và “của ta”, thì tôi nghĩ sự lôi kéo của tình dục đối với người ấy sẽ rất khó vượt qua. Khi đó, việc quay trở về vùng chân không cũng trở thành một điều vô cùng khó khăn. Bởi tâm của bạn từ đầu đến cuối chỉ xoay quanh “ta” và “của ta”; từng giờ từng phút đều chú ý đến cảm thọ của bản thân, đến vui buồn, thương ghét của mình, đến việc mình có thoải mái hay không, có đang tức giận hay không, người khác đối xử với mình ra sao. Nếu lúc nào cũng chỉ quan tâm đến những cảm thọ của tự ngã như vậy, thì từng giờ từng phút bạn đều đang bị cõi vật chất lôi kéo. Khi ấy, hết đời này sang đời khác, bạn chỉ tiếp tục trải nghiệm luân hồi trong đó, mãi mãi không thể trở về vùng chân không.

Vì vậy, mỗi người tu hành, một khi đã bước trên con đường tu chứng Phật pháp, cần không ngừng mở rộng tầm nhìn, mở rộng tâm lượng và khí độ của mình. Đừng để sự chú ý của bản thân mãi dừng lại trong những cảm thọ phân biệt của cái “ta”. Mỗi hành giả tu học Phật pháp đều nên lấy việc “lấy thân chứng đạo, giải thoát luân hồi, phổ độ chúng sinh” làm mục tiêu cao nhất của đời mình, chứ không chỉ mong thông qua tu chứng để đạt được sự an vui trong hiện đời. Bởi chỉ cần còn ở phía trước vùng chân không, còn ở trong tất cả các pháp hữu vi, thì vẫn còn thuộc phạm vi của thời không. Chỉ cần còn ở trong thời không, dù hiện tại bạn có hạnh phúc đến đâu, có vui vẻ đến đâu, thì sự “an lạc” ấy cũng có thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào. Chỉ vì khi đang bình an và hạnh phúc, chúng ta không cảm nhận được điều mà Đức Phật gọi là khổ. Bởi tất cả đều vô thường, tất cả đều đang sinh diệt không ngừng, vì chúng ta vẫn còn ở trong thời không. Hoặc cũng có khi chúng ta lành vết thương rồi quên mất nỗi đau. Nếu vẫn chưa phát khởi được tâm nguyện ấy, vẫn còn bị tình dục lôi kéo, thì hãy thử nghĩ đến những người thân, bạn bè xung quanh đang bị tình ái trói buộc, đang bị tình ái dày vò; hãy nghĩ đến nỗi đau mà họ đang trải nghiệm trong tâm hồn, cảm giác sống không bằng chết mà họ đang gánh chịu. Cũng hãy nghĩ đến những bệnh nhân đang nằm trong bệnh viện, nghĩ đến nỗi khổ khiến họ ăn không ngon, ngủ không yên, đau đớn như sống không bằng chết. Biết đâu một ngày nào đó, khi quả báo chín muồi, chính chúng ta cũng sẽ trở thành những người như họ.

Một người đã phát tâm cầu đạo, thậm chí còn phải nghĩ đến nỗi khổ của chúng sinh trong ba đường ác. Tuy chúng ta không thể nhìn thấy, nhưng trong kinh Phật có nói đến địa ngục. Nơi đó, chúng sinh phải chịu những thống khổ đến mức không có dù chỉ một khoảnh khắc để thở ra hay nghỉ ngơi, cũng không có một giây phút nào được ngừng lại. Hơn nữa, thời gian chịu khổ dài lâu đến mức vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Vì thế mới gọi là “Vô Gián Địa Ngục” — một cảnh giới mà khổ đau diễn ra liên tục không gián đoạn, dường như không còn khái niệm về thời gian để tính đếm nữa.

Sau đây xin giới thiệu hai phương pháp nhỏ để đối trị dục vọng sinh lý. Các bạn có thể mang những điều đã học được chia sẻ với các tự viện. Đôi khi, một số vị xuất gia không thuận tiện học hỏi trực tiếp những phương pháp tu chứng này từ hàng cư sĩ, vì vậy các bạn có thể đem những điều mình học được truyền đạt lại cho chư Tăng Ni và các tự viện để cùng tham khảo.

(I) Năng lượng tính dục là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất trong cơ thể con người. Loại năng lượng này vô cùng mạnh mẽ; nếu có thể vận dụng nó vào việc tu đạo thì sẽ mang lại hiệu quả rất nhanh chóng. Khi năng lượng tính dục khởi lên, nếu ý thức của bạn có thể giữ được trạng thái thanh tịnh và vô vi, nghĩa là khi xuất hiện nhu cầu hoặc khát vọng về phương diện tính dục, tâm ý vẫn duy trì sự thanh tịnh, không khởi tưởng đến bất kỳ người nam hay người nữ nào, không để trong tâm hiện lên bất kỳ hình ảnh hay huyễn tưởng nào liên quan đến nam nữ; không liên kết sự xung động của năng lượng tính dục ấy với bất kỳ dục niệm hay hành vi dục vọng nào, cũng không liên hệ nó với các hành vi tình dục; đồng thời không quá chú tâm vào những cảm thọ muốn gần gũi người khác phái. Lúc mới bắt đầu có thể chưa làm được, vẫn còn bị người khác phái lôi kéo. Nhưng sau nhiều lần rèn luyện, nguồn năng lượng ấy sẽ tự nhiên quay trở về các mạch luân, trở về mạch đạo và khai mở các mạch đạo. Vì vậy, đây là một nguồn năng lượng hết sức quý báu. Nếu hoàn toàn không có sự khởi động của năng lượng tính dục, ngược lại cũng sẽ không có được nguồn năng lượng mạnh mẽ như thế để sinh khởi.

Thật ra, khi năng lượng tính dục dồi dào, năng lượng trong từng tế bào của cơ thể cũng trở nên sung mãn. Khi các tế bào ấy tràn đầy năng lượng, nếu trong khoảnh khắc tâm thức khởi lên ý niệm dâm dục, thì những tế bào đang sung mãn ấy lập tức sinh ra cái gọi là “dâm độc”, khiến con người xuất hiện huyễn cảnh về “nhu cầu tính dục”. (Loại “dâm độc” này được hình thành khi cảm thọ nơi thân thể kết hợp với những thông tin về dục vọng đã được tích chứa trong ý thức. Nếu tâm chúng ta không khởi phân biệt đối với những cảm thọ ấy của thân thể, thì cho dù trong các tế bào vẫn còn lưu lại những thông tin về dục vọng, chúng cũng sẽ không kết thành “dâm độc”. Khi đó, nguồn năng lượng ấy vẫn có thể trở thành một sức mạnh vô cùng lớn lao hỗ trợ cho sự tu chứng. Tuy nhiên, để hoàn toàn thanh trừ những thông tin ấy, cần phải có sự chuyển hóa triệt để cả về thân lẫn tâm.)

Là một người hướng dẫn tu chứng Phật học, tôi thường phải quan sát trạng thái tu tập của các đệ tử, theo dõi từng biến chuyển về thân tâm và năng lượng của họ, kể cả những thay đổi nơi các tế bào. Tôi nhận thấy rằng khi hành giả ở trong trạng thái vô dục vô cầu, lúc năng lượng tính dục sinh khởi thì năng lượng sung mãn trong các tế bào vô cùng thanh tịnh. Nhưng một khi trong tâm hành giả khởi lên dâm niệm hoặc những cảm thọ ám muội, có thể thấy ngay năng lượng nơi các tế bào vốn thanh tịnh ấy trở nên đục nhiễm; đồng thời phát ra đủ loại quang sắc khác nhau, tần số dao động của trường năng lượng sinh học quanh thân cũng thay đổi, rồi phát ra những dao động mang tính dục hướng về người khác phái mà mình yêu thích. Vì vậy, không bị tình dục lôi kéo là một trong những điều khó khăn nhất đối với người tu hành. Tuy nhiên, nếu không ngừng rèn luyện bản thân thì vẫn có thể nhanh chóng đạt được, chỉ là có thật sự muốn làm hay không mà thôi; lúc đầu chỉ có đôi chút khó khăn. Tôi không nói rằng mọi hành giả đều phải đoạn tuyệt tình cảm hay dục vọng. Chỉ là trong quá trình tu chứng Phật pháp, khi cần vượt qua sự lôi kéo của cõi vật chất và cõi quang âm, trong giai đoạn vượt qua những tầng cảnh giới ấy, có lúc chúng ta không thể để tình dục dẫn dắt mình. Nếu không, chúng ta sẽ không thể vượt ra khỏi những cảnh giới đó. Đây chỉ là nhu cầu của một giai đoạn nhất định trong tiến trình tu chứng, có thể kéo dài vài ngày, vài tháng hoặc một khoảng thời gian nào đó mà thôi. Khi hành giả đã giải thoát khỏi sự trói buộc của thời không nơi cõi vật chất và cõi quang âm, thì tình dục có thể được thăng hoa thành tình thương. Đó là một trạng thái tự tại phát sinh sau khi đã vượt thoát sự ràng buộc của tình dục. Không phải là không còn biết yêu thương, mà là sau khi giải thoát khỏi tình dục, tình thương ấy trở nên tự do và tự tại hơn.

(II) Ngoài ra còn có một phương pháp khác gọi là “Đơn Vận Pháp”.

Khi khởi lên xung động tính dục, hãy đem tâm ý an trụ nơi hải để luân. Hải để luân như đã nói ở phần trước, lấy huyệt Hội Âm làm trung tâm của mặt cắt ngang; nó có thể lớn vô hạn, cũng có thể nhỏ vô hạn. Hãy đặt tâm ý nơi vị trí ấy và quán tưởng năng lượng tính dục của mình hóa thành một ngọn lửa đang bừng cháy. Thậm chí có thể quán tưởng hải để luân giống như một bếp ga, rồi dùng ý niệm mở van lửa; trong khoảnh khắc ấy, ngọn lửa từ hải để luân bốc thẳng lên cao. Sau đó, để ngọn lửa ấy cháy ngày càng mạnh hơn, để dục hỏa được cháy hết mức của nó. Đừng đem trạng thái ấy liên hệ với giới luật, đạo đức hay phẩm hạnh; chỉ cần an trụ trong ngọn lửa dục vọng đang bừng cháy ấy, giác biết rõ ràng nhưng tâm không dao động. Đến khi kết thúc thời tu tập, hãy thu nhiếp toàn bộ dục hỏa ấy trở về tề luân. Tề luân nằm tại mặt cắt ngang đi qua rốn; tức là thu hồi nguồn năng lượng ấy trở về nơi khí hải.

Viết một bình luận