Đứng trên lập trường Đại thừa Phật pháp mà quán xét, giáo hóa kỳ của một vị Phật (tức bậc Phật do công đức cảm ứng chung của chúng sanh mà thị hiện, như đức Thích-ca, đức Di-lặc cùng chư giáo chủ Phật) không vì ngài thị hiện nhập Niết-bàn nơi thân tứ đại ở nhân gian mà liền chấm dứt. Bởi lẽ, một đức Phật viên mãn thành tựu đủ ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân. Còn nơi cõi người, những gì phàm phu chúng ta có thể thấy được hình tướng, nghe được âm thanh và xúc chạm được nơi thân thể, chỉ là sự phương tiện thị hiện của Ứng hóa thân mà thôi. Trong cảnh giới thời–không huyễn hóa nơi nhân gian, Đức Phật đã thị hiện sanh, lão, bệnh, tử — trọn vẹn tiến trình một đời phàm phu. Bởi do vọng chấp và phân biệt của chúng sanh nên họ cho rằng một đức Phật như thế mới chân thật, lời Ngài thuyết dạy mới dễ lãnh hội. Kinh điển dạy rằng thọ mạng của Như Lai là vô lượng, ngay cả Ứng hóa thân cũng có thể do thần thông lực mà lưu hình trụ thế dài lâu nơi cõi người. Việc Ngài thị hiện nhập Niết-bàn ở nhân gian là để khiến chúng sanh càng thêm trân quý Phật pháp khó gặp, khó cầu. Rõ ràng, sự thị hiện như vậy chính là tùy thuận căn cơ của loài người.
Nhưng để nhân loại có thể thoát ly luân hồi một cách rốt ráo, trước hết cần vượt thoát mô thức tư duy hạn hẹp của loài người, tức thoát ra khỏi sự nhận thức bị giới hạn bởi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Ngày nay, nhờ kính hiển vi ta có thể thấy được những sinh thể mà mắt thường không thể thấy; nhờ điện thoại ta có thể nghe được âm thanh từ nơi xa; nhờ truyền hình và mạng lưới mà ta có thể đồng thời thấy được những sự kiện chân thật xảy ra ở nơi khác. Thậm chí, phim ảnh 3D khiến ta ngồi yên một chỗ mà như đang ở giữa cảnh thật: sóng biển trong vắt vỗ ào ạt từ màn hình ập đến, mang lại cho ta cảm giác kích thích và vui thú như thật. Quán chiếu từ Phật pháp, tất cả những phát minh khoa học bên ngoài hiện nay chẳng qua chỉ là sự hiển lộ ra bên ngoài của các công năng vốn sẵn có nơi nội tâm con người. Tiềm năng nội tại của đời sống chúng ta vốn là vô hạn.
Trong một thời gian dài, trong giới Phật giáo đã từng có nhiều tranh luận về việc làm thế nào để quán triệt đúng đắn đối với vấn đề “Đức Thích-ca Mâu-ni Phật”. Học giả của Tiểu thừa Phật giáo nhấn mạnh rằng Đức Phật là một “bậc đã giác ngộ”, nhằm ngăn chúng sanh thần thánh hóa Ngài, tránh khiến người ta lầm tưởng rằng việc thành Phật là điều xa vời khó đạt, hoặc lấy thần thông quảng đại, pháp lực vô biên làm tiêu chuẩn để thành Phật. Đây là một kiến giải rất chính xác. (Bởi vì có nhiều tôn giáo, giáo phái khác cũng có những người có thần thông pháp lực, nhưng không thể vì thế mà gọi là Phật. Đức Phật cũng dạy rằng mỗi người đều có Phật tính, chỉ vì bị ngăn che bởi vọng tưởng phân biệt và chấp trước. Một khi phá được phân biệt, chấp trước, thì mỗi người đều là Phật, đều có thể ngay trong khoảnh khắc mà thoát khỏi sinh tử luân hồi). Thế nhưng, khi nhấn mạnh rằng Đức Phật cũng là một “con người”, hàng hành giả Tiểu thừa lại đồng thời cho rằng giáo pháp do Phật thuyết chỉ giới hạn nơi những gì Ngài đã trực tiếp thuyết giảng bằng lời khi còn tại thế ở nhân gian; còn những pháp Ngài thuyết ở các cảnh giới hay thế giới khác thì không được xem là Phật pháp. Nếu đứng trên lập trường của một phàm phu chưa thoát khỏi luân hồi trong ba cõi mà nói, thì cách hiểu như vậy cũng có thể thông cảm được. Nhưng ở đây nảy sinh một vấn đề: Đức Phật là một bậc “đã giác ngộ”, vậy thì “giác ngộ” ấy rốt cuộc bao hàm những gì? Trí tuệ mà Ngài chứng đạt sâu rộng khôn lường, chẳng phải là điều tri thức thế gian có thể đạt đến. Có khi chúng ta tự cho mình thông minh, nhưng đối diện với giáo pháp ấy lại hoàn toàn không thể thấu hiểu. Sự “giác ngộ” ấy, khi thị hiện nơi nhân gian, đã bao hàm chứng lượng giác ngộ của Phật cùng vô lượng vô biên cảnh giới không thể nghĩ bàn. Tất cả những điều ấy đều vượt ngoài khả năng nhận biết của phàm phu chúng ta.
Hiện nay, theo sự công nhận chung, thời kỳ hoằng hóa của đức Thích-ca Mâu-ni được phân thành ba thời kỳ: Chánh pháp một nghìn năm, Tượng pháp một nghìn năm, và Mạt pháp mười nghìn năm. Sự phân định ba thời này chỉ là cách quy ước thế tục nơi nhân gian. Còn xét theo chân nghĩa Đại thừa, thời gian chỉ được hiển bày nơi “đương niệm hiện tiền”; khi không khởi tâm quá khứ, không khởi tâm hiện tại, không khởi tâm vị lai, thì ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả đắc. Thế nên, sự phân chia thành “ba thời” rốt ráo vốn là không.
Thời kỳ Chánh pháp gồm cả giai đoạn Đức Phật thị hiện thân tứ đại nơi thế gian, cùng thời có nhiều bậc A-la-hán, Bồ-tát chứng quả hiện trụ thế. Trong thời kỳ này, số đông theo Phật học đạo, chứng đắc A-la-hán quả; lại có nhiều bậc Bồ-tát ở các quả vị hiện thân trợ duyên cùng Phật, tự giác giác tha. Chúng sanh ở vào thời ấy rất dễ gặp được bậc tu chứng làm thầy chỉ đạo trên đường giải thoát.
Trong thời Tượng pháp, chúng sanh phần nhiều tiếp cận tôn tượng và kinh điển của Phật, bậc chứng quả hiện đời thì hiếm có. Người tu hành mỗi phái giữ lấy kiến giải riêng, tranh biện cùng nhau, khó bề chứng đắc quả vị.
Trong thời Mạt pháp, cộng nghiệp của chúng sanh ngày càng sâu dày, phần nhiều đắm chìm nơi trần lao ngũ dục. Người tin Phật để cầu phước báo thì rất đông, nhưng hành giả lại thường chẳng khởi được tâm chân thật cầu xuất ly giải thoát. Do mục đích tu tập bất chánh, nên tà sư thuyết pháp tràn lan, tà kiến che lấp chánh pháp, khiến cho người tu hành rất dễ lạc vào đường mê.
Hiển nhiên, nếu y theo sự phân kỳ như thế, thì hành giả hiện nay của chúng ta đều ở trong thời Mạt pháp. Đây quả thật là một phương diện bất hạnh cho người tu tập. Nhưng xét trên một phương diện khác, kể từ khi Phật pháp được ghi chép bằng văn tự, đã truyền thừa trong nhân gian hơn hai ngàn sáu trăm năm. Lại nữa, Đại thừa Phật pháp vốn chủ trương lý thuyết tu chứng qua nhiều đời nhiều kiếp. Nếu quán chiếu như vậy, thì chúng ta rất có thể đã trải qua nhiều kiếp tu chứng, thậm chí từng hành trì trong thời Chánh pháp và Tượng pháp. Nếu không thế, thì giữa thời Mạt pháp đầy gian nan, tâm xuất ly khó phát khởi, sao hôm nay chúng ta lại có thể khởi sự bước lên con đường tu chứng, phát tâm cầu giải thoát khỏi luân hồi, chí nguyện thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?! Do vậy, ở thời Mạt pháp, những hành giả chân chánh dù chưa hẳn là bậc thành tựu tái lai, cũng đã tích lũy thiện căn nhiều đời. Chính vì thế, chúng ta vẫn có nhiều hy vọng vén mở màn vô minh dày đặc của thời Mạt pháp, mà thấy được ánh sáng trí tuệ của chư Phật. Cho nên, chúng sanh trong thời Mạt pháp không phải nhất định là không thể thành tựu.
Tuy đang ở thời Mạt pháp, nhưng người tu hành và chứng ngộ Phật pháp vẫn nên hoan hỷ, vì thời kỳ giáo hóa của Đức Phật vẫn chưa chấm dứt. Trong đời này, chúng ta còn được sinh vào cõi người, còn có cơ duyên nghe pháp, tu tập và chứng nghiệm Phật pháp. Do đó, bất luận quý vị đã quy y nơi bao nhiêu vị thầy, đã nương tựa vào tự viện nào, thì chỗ quy y tối thượng và nơi tiếp nhận giáo hóa căn bản của chúng ta vẫn là Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Tất cả chư vị thầy, dù xuất gia hay tại gia, cũng chỉ là bậc thiện tri thức thay Ngài tiếp dẫn, trợ duyên hoằng pháp mà thôi.