Phần I – Hành trình tu đạo của tôi [Tập 12]

Khi tôi khám bệnh, cần tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Ban đầu, mỗi ngày tôi khám cho khoảng 10 bệnh nhân vào buổi sáng, buổi chiều phải ngồi thiền khoảng 8 tiếng mới bù lại được năng lượng. Sau này, khi định lực tăng trưởng, mỗi ngày chỉ cần ngồi hai tiếng là đủ, nhưng vẫn tiêu hao rất nhiều năng lượng tinh thần; có lúc mệt đến mức tim run rẩy, tóc rụng nhiều. Tuy nhiên, toàn bộ quá trình tu hành vốn là một quá trình từ bỏ cái ngã, cống hiến vô ngã. Để rộng kết thiện duyên và viên mãn công đức, tôi không để tâm đến những điều đó. Điều khiến tôi đau lòng nhất lại là sự hiểu lầm của bệnh nhân: có những người vốn không mắc bệnh, nhưng đến khám chỉ để thử tôi hoặc cho vui. Khi tôi mới bắt đầu ngồi khám, chuyện này xảy ra hàng ngày, nhưng tôi vẫn cố gắng kiểm tra kỹ toàn thân từng bệnh nhân, và hoàn toàn miễn phí. Niềm an ủi là tất cả những bệnh nhân này khi ra về đều hài lòng và tỏ thái độ xin lỗi. Hơn nữa, gần 80% bệnh nhân không muốn nói ra tình trạng bệnh khi tôi chẩn đoán. Vì vậy, có người bị đau chân nhưng không hé răng nói, tôi phải kiểm tra toàn bộ từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, mới phát hiện ra căn nguyên ở chân. Nhiều bệnh nhân chỉ chú ý vào phương pháp khám bệnh của tôi, cho rằng nó đặc biệt; nhưng tôi thấy quan trọng hơn cả là liệu pháp chữa trị. Phương thuốc độc đáo mà tôi học từ sư phụ, phối hợp theo y lý truyền thống, nhất định sẽ mang đến phúc lành cho mọi bệnh nhân có duyên với tôi.

Kỳ thực, tâm trạng của người bệnh là điều có thể lý giải; tôi chẳng muốn ở đây trách cứ một ai, nhưng mỗi khi thân tâm quá mệt mỏi, trong lòng lại khởi niệm không muốn tiếp tục hành nghề y. Những lúc như vậy, Sư phụ liền từ bi an ủi, khích lệ tôi rằng: “Chớ sợ người bệnh không hiểu, không tin; ấy là do tự thân con công đức chưa viên mãn, lại nữa chúng sinh vốn nặng “tham, sân, si, mạn, nghi”. Con đã phát tâm hành “Bồ Tát đạo”, ắt nên xem mỗi chúng sinh như thân quyến của mình: họ đang bị bệnh khổ bức bách, con đã hiểu y thuật thì không thể ngồi nhìn mà chẳng cứu. Quả thật, cũng có kẻ mượn việc hành y để dối người, nên người bệnh sinh tâm e sợ bị lừa; con chỉ cần tùy duyên mà hành. Những bệnh nhân có duyên với con, tự nhiên sẽ sinh lòng tín nhiệm, và cũng nhờ sự chữa trị của con mà được khỏi bệnh.”

Trong quá trình hành y, tôi vẫn gắng thu xếp thời gian để tĩnh tọa, tu tập “thiền định”, đồng thời đọc tụng kinh điển Phật giáo. Sư phụ chỉ khuyên tôi chuyên tâm vào một bộ kinh duy nhất là “Kinh Duy Ma Cật”. Trong khoảng thời gian ấy, khi nhập định, có lúc tôi cũng vận dụng trì chú và thủ ấn của Mật tông để trợ duyên khai mở các luân xa. Thường khi ở trong thiền định, tôi khởi lên một số phương pháp tu chứng, liền y đó mà tự mình thực hành. Sư phụ đối với việc tôi học pháp môn nào cũng không quá để tâm, chỉ dạy rằng: “Pháp môn vốn không có đúng sai hay hơn kém, cốt yếu là ‘tri kiến’ phải chân chánh.” Trong lúc thiền định, tôi còn như được theo học một vị nữ sư về “pháp môn Thánh Mẫu Ba Sơn”, lại như được học “thượng thừa nữ đan công” từ “Nguyên Thủy Thiên Tôn”. (Cho nên, trong thiền định, tôi từng học “thượng thừa nữ đan công” với “Nguyên Thủy Thiên Tôn”, và “pháp môn Thánh Mẫu Ba Sơn” từ một vị nữ sư khác.)

Sư phụ báo cho tôi biết, lần thứ ba Triều sơn là đến đạo tràng của Phổ Hiền Bồ Tát tại Nga Mi Sơn. Lần này là có em trai tháp tùng tôi. Người trong nhà tuy có đôi phần dị nghị, song sự ngăn trở không đến nỗi mãnh liệt; Sư phụ dạy rằng ấy là nhờ công đức trì giữ “nhẫn nhục giới” của tôi. Tôi lưu lại Nga Mi Sơn gần nửa tháng, dọc đường nương trú nơi các tự viện, vừa hành cước vừa quán chiếu cảnh duyên; hễ gặp chùa thì vào đảnh lễ, trời tối liền nghỉ lại nơi già lam gần đó. Điều khiến tôi cảm thọ sâu sắc nhất nơi Nga Mi Sơn là trai phạn nơi chư tự thanh tịnh, khả khẩu, lại thêm phong cảnh u nhã, khiến tâm thần an hòa. Đến Kim Đỉnh, tôi được diện kiến Phổ Hiền Bồ Tát; Ngài dường như cũng từ phương xa trở về, vừa thấy tôi liền từ trên lưng bạch tượng hạ xuống. Tướng hiện của Ngài là một thiếu nữ diệu niên, tóc kết nhiều bím nhỏ, buộc bằng dải lụa sắc màu. Ngài hoan hỷ, tiếng cười thanh thoát; chúng tôi cùng nhau ẩm trà, đàm đạo. Lúc từ biệt, Ngài còn ban tặng tôi nhiều kinh điển cùng các pháp vật.

Từ Nga Mi Sơn trở về chưa bao lâu, tôi lại nhận được sự chỉ dạy của Sư phụ, bảo lên đường triều sơn nơi đạo tràng của Địa Tạng Bồ Tát tại Cửu Hoa Sơn. Chúng tôi vẫn như trước, nương trú nơi các tự viện, nhưng riêng trên đỉnh Cửu Hoa Sơn đã phát sinh một việc không mấy hoan hỷ. Khi ấy, tôi rất mong được lưu lại nơi tự viện trên đỉnh núi, nên em trai đến khách đường xin quải đơn; vị tri khách lúc đó chẳng rõ vì duyên cớ gì mà tâm đang bất an, liền nổi giận, thẳng thừng từ chối. Em trai tôi muốn khẩn cầu thêm một lần, không ngờ vị ấy càng thêm phẫn nộ, lại buông lời quở mắng, thậm chí đòi xua đuổi em tôi ra ngoài. Tôi đứng nơi cửa khách đường, trong lòng vô cùng thương cảm, khởi niệm buồn tủi: người đã xuất gia học đạo, cớ sao lại có thể như vậy, chẳng những chưa thấy được từ bi phương tiện, mà đến cả lễ nghi thông thường cũng dường như chưa trọn vẹn.

Chúng tôi liền từ đỉnh núi trở xuống, nương trú tại một ngôi tự viện xa xôi, cách đỉnh không xa. Đêm ấy, trong khi nhập thiền định, tôi như lên đến Kim Đỉnh, Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân bước ra; Ngài thị hiện tướng nam, thân cao lớn, dung nghi trang nghiêm, tay cầm tích trượng, phong thái uy nghi như bậc vương giả. Nhân nhắc lại việc xảy ra ban ngày, tôi thưa rằng: “Đệ tử nơi đây vì sao lại như thế?” Bồ Tát dường như không lấy làm bận tâm, liền dạy rằng: “Như thế là thế nào? Đệ tử của ta vốn là như vậy. Vì sao con lại chấp nhất muốn ở lại trên đỉnh núi?” Tôi thưa rằng cảm nhận nơi ấy đạo tràng thanh tịnh, nên muốn ban đêm tĩnh tọa tu tập. Bồ Tát dạy rằng: “Nếu đối với việc ấy con không khởi phân biệt, không sinh tâm sân não, thì tức đã ở trên đỉnh mà tọa thiền trọn một đêm.” Tôi vừa nghe liền như người trong mộng chợt tỉnh, trong lòng dấy lên niệm hổ thẹn sâu xa, tự hỏi từ bao giờ mình lại chấp trước tướng trạng đến thế. Về sau, trong thiền định, tôi còn nhiều lần được diện kiến Địa Tạng Bồ Tát; Ngài tùy duyên thị hiện các tướng khác nhau, nhưng đều không còn vẻ nghiêm nghị, lời nói thẳng thắn, có phần cứng cỏi như hôm ấy, mà luôn hiện bày sự từ hòa, nhu nhuyến, đầy đủ tâm đại bi.

Viết một bình luận