PHẨM THỨ MƯỜI BỐN: LY TƯỚNG TỊCH DIỆT;PHẨM THỨ MƯỜI LĂM: TRÌ KINH CÔNG ĐỨC;PHẨM THỨ MƯỜI SÁU: NĂNG TỊNH NGHIỆP CHƯỚNG

Nhĩ thời, Tu Bồ Đề văn thuyết thị kinh, thâm giải nghiã thú, thế lệ bi khấp, nhi bạch Phật ngôn: “Hy hữu, Thế tôn! Phật thuyết như thị thậm thâm kinh điển, ngã tùng tích lai sở đắc tuệ nhãn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh. Thế tôn! Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, tín tâm thanh tịnh, tắc sinh thật tướng, đương tri thị nhơn, thành tựu đệ nhất hy hữu công đức. Thế tôn! Thị thật tướng giả, tức thị phi tướng, thị cố Như lai thuyết danh thật tướng. Thế tôn! Ngã kim đắc văn như thị kinh điển, tín giải thọ trì bất túc vi nan, nhược đương vị thế, hậu ngũ bách tuế, kỳ hữu chúng sinh, đắc văn thị kinh, tín giải thọ trì, thị nhơn tắc vi đệ nhất hy hữu.

Hà dĩ cố? Thử nhơn vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Sở dĩ giả hà? Ngã tướng tức thị phi tướng, nhơn tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức thị phi tướng. Hà dĩ cố? Ly nhất thiết chư tướng, thị danh chư Phật. Phật cáo Tu Bồ Đề: Như thị! như thị! Nhược phục hữu nhơn đắc văn thị kinh, bất kinh, bất bố, bất úy, đương tri thị nhơn thậm vi hy hữu. Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Như lai thuyết đệ nhất ba la mật, phi đệ nhất ba la mật, thị danh đệ nhất ba la mật. Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục ba la mật, Như lai thuyết phi nhẫn nhục ba la mật, thị danh nhẫn nhục ba la mật. Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Như ngã tích vi Ca lợi vương cát tiệt thân thể, ngã ư nhĩ thời, vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Hà dĩ cố?

Ngã ư vãng tích tiết tiết chi giải thời, nhực hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, ưng sinh sân hận. Tu Bồ Đề ! hựu niệm quá khứ ư ngũ bách thế tác nhẫn nhục tiên nhơn, ư nhĩ sở thế, vô ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Thị cố Tu Bồ Đề! Bồ tát ưng ly nhất thiết tướng, phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh hương vị xúc pháp sinh tâm, ưng sinh vô sở tâm. Nhược tâm hữu trụ, tức vi phi trụ. Thị cố Phật thuyết: “Bồ tát tâm bất ưng trụ sắc bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ tát vi lợi ích nhất thiết chúng sinh, tức phi chúng sinh. Tu Bồ Đề! Như lai thị chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả. Tu Bồ Đề! Như lai sở đắc pháp, thử pháp vô thật vô hư. Tu Bồ Đề, nhược Bồ tát tâm trụ ư pháp nhi hành bố thí, như nhơn nhập ám, tức vô sở kiến. Nhược Bồ tát tâm bất trụ pháp nhi hành bố thí, như nhơn hữu mục, nhựt quang minh chiếu, kiến chủng chủng sắc. Tu Bồ Đề! Đương lai chi thế, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, năng ư thử kinh thọ trì đọc tụng, thị tắc Như lai dĩ Phật trí tuệ, tất tri thị nhơn, tất kiến thị nhơn, giai đắc thành tựu vô lượng vô biên công đức.”

“Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, sơ nhật phần dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, trung nhật phần phục dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, hậu nhật phần diệc dĩ hằng hà sa đẳng thân bố thí, như thị vô lượng bách thiên vạn ức kiếp dĩ thân bố thí; nhược phục hữu nhơn, văn thử kinh điển, tín tâm bất nghịch, kỳ phuớc thắng bỉ, hà huống thư tả,thọ trì, đọc tụng, vi nhơn giải thuyết. Tu Bồ Đề! Dĩ yếu ngôn chi, thử kinh hữu bất khả tư nghì, bất khả xứng lượng, vô biên công đức. Như lai vi phát đại thừa giả thuyết, vi phát tối thượng thừa giả thuyết. Nhực hữu nhơn năng thọ trì đọc tụng, quảng vi nhơn thuyết, Như lai tất tri thị nhơn, tất iến thị nhơn, giai đắc thành tựu bất hả lượng, bất khả xứng, vô hữu biên, bất khả tư nghì công đức. Như thị nhơn đẳng, tức vi hà đảm Như lai a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhược nhạo tiểu pháp giả, trước ngã kiến, nhơn kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, tắc ư thử kinh, bất năng tính thọ đọc tụng, vị nhơn giải thuyết. Tu Bồ Đề! Tại tại xứ xứ, nhược hữu thử kinh, nhất thiết thế gian, thiên, nhơn, a tu la, sở ưng cúng dường; đương tri thử xứ tắc vi thị tháp, giai ưng cung kính, tác lễ vi nhiễu, dĩ chư hoa hương nhi tán kỳ xứ.”

“Phục thứ, Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn, thọ trì đọc tụng thử kinh, nhược vi nhơn khinh tiện, thi nhơn tiên thế tội nghiệp, ưng đọa ác đạo, dĩ kim thế nhơn khinh tiện cố, tiên thế tội nghiệp tắc vi tiêu diệt, đương đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. “Tu Bồ Đề ! Ngã niệm quá khứ vô lượng a tăng ỳ kiếp, ư Nhiên Đăng phật tiền, đắc trực bát bách tứ thiên vạn ức na do tha chư Phật, tất

giai cúng dường thừa sự, vô không quá giả, nhược phục hữu nhơn, ư hậu vị thế, năng thọ trì đọc tụng thử kinh, sở đắc công đức, ư ngã sở cúng dường chư Phật công đức, bách phần bất cập nhất, thiên vạn ức phần, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập. Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn, ư hậu vị thế, hữu thọ trì đọc tụng thử kinh, sở đắc công đức, ngã nhược cụ thuyết giả, hoặc hữu nhơn văn, tâm tức cuồng loạn, hồ nghi bất tín. Tu Bồ Đề! Đương tri thị kinh nghĩa bất khả tư nghì, quả báo diệc bất khả tư nghị.”

Đại ý ba phẩm nầy là, đang lúc Tu Bồ Đề nghe đức Phật nói đến chỗ nầy, cuối cùng lĩnh hội sâu sắc đạo lý của Phật nói, không ngăn được nỗi vui mừng mà rơi nước mắt, bạch với đức Phật rằng: “Đức Thế tôn thật ít có ở trên đời, Ngài thuyết kinh điển sâu xa như vậy, con từ trước đến nay liên tục khổ nhọc tu hành, cho dù có thể có tuệ nhãn phân biệt tất cả chân vọng, nhưng trái lại chưa từng nghe qua kinh điển như vầy.

Thưa Thế tôn, nếu như có người may mắn nghe được bộ kinh nầy, đối với lời nói có lòng tin sâu sắc không còn nghi ngờ, lòng tin thanh tịnh, thì có thể không bị các tướng sinh diệt mê hoặc, thật tướng vũ trụ vạn pháp sẽ ở nơi người đó hiển lộ ra. Nếu được như vậy, thì người nầy thành tựu công đức hiếm thấy nhất trên đời. Thưa Thế tôn, con ở đây nói “tướng Thật” không phải là tướng trạng chân thật bất biến mà vũ trụ vạn pháp thật sự có, chỉ là mượn tên gọi thôi. Nếu chúng sinh không bị tướng giả mê hoặc, thì đem trạng thái khai ngộ gọi là thấy được “Tướng thật”.

Thưa Thế tôn, bây giờ con nghe được bộ kinh điển nầy, tin sâu hiểu rõ và hành trì, hoàn toàn không khó khăn, nhưng Phật nói thời kỳ mạt pháp về sau khoảng năm trăm năm, nếu như có chúng sinh nghe được bộ kinh nầy hay tin hiểu và thọ trì, người nầy rất khó có được, là người hiếm có. Vì sao con nói như vậy? Bởi vì người nầy không có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, chúng sinh chấp trước tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, đều hư vọng không thật. Có thể nói như vậy, lìa tất cả tướng tức có thể gọi là Phật.

Ở đây, lý do Tu Bồ Đề tán thán, đức Phật diệt độ trở về sau, nếu như có người có thể không bị các thứ tướng như tự mình, người khác, chúng sinh, thọ giả mê hoặc, lại còn đối với kinh nầy tin nhận thọ trì, người như vậy rất ít có, rất khó được. Chính xác như vậy, ngày nay phần lớn người tu học Phật pháp, phát tâm cầu chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhưng lại không cách nào an trụ ở tánh không chánh kiến hành trì, sở cầu, tâm sở đắc mạnh mẽ, đối với tự mình, người khác, chúng sinh, tính toán so bì, chấp trước, lấy bỏ. Dù phát tâm hướng pháp lớn, nhưng lại hành trì nơi vui thích pháp nhỏ, chỉ trông mong thanh tịnh đầy đủ trong khoảnh khắc, hoặc cầu phước lợi thế gian, trường sinh bất lão, các thứ thần biến v.v….. Nếu như có người có thể biết tất cả pháp vô sinh, bàn luận không tới rồi khử bỏ, phủ nhận, cho nên có thể ở nơi tướng mà lìa tướng, tức gọi là Phật.

Đức Phật khẳng định bảo Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Nếu như còn có người lắng nghe được lời nói như vậy, sau đó không kinh ngạc, không sợ hãi, không cảm thấy cao sâu khó hiểu, người như vậy rất ít có, rất khó được. Tu Bồ Đề, Như lai nói đây là người tốt nhất, hay phá trừ tất cả chấp trước, khiến chúng sinh từ bến bờ luân hồi bên đây đạt đến pháp môn giải thoát qua bờ bên kia. Đương nhiên cũng chẳng phải thật có pháp hay nhất như vậy, chỉ là phương tiện giao lưu, xưng hô vậy thôi”.

Đối thoại trên, trước tiên là Tu Bồ Đề nói đến cảm ngộ của mình, Ngài cho rằng nếu như có người có thể lắng nghe được Phật thuyết pháp như vậy, có thể thấy tánh thành Phật. Tu Bồ Đề là một trong mười vị đại đệ tử của Phật, có danh hiệu là “Giải không đệ nhất”, là bậc đại A la hán đã ly dục, tức là không bị tất cả dục vọng trong ngoài thân tâm, cảnh giới chuyển, đạo lý nhơn không, pháp không, tin tưởng Ngài đã nghe qua, nhưng ở đây, Ngài rất vui mừng mà khóc, là nghe được Phật lấy góc độ nầy nói về tánh không, từ nào đến giờ Ngài chưa nghe qua. Bởi vì Tu Bồ Đề là đại diện cho người thiện nam, kẻ thiện nữ mới phát tâm đặt câu hỏi, Ngài cho rằng lúc đó Phật giảng giải như vậy, có thể rất sâu sắc khế nhập tâm tánh các đệ tử nghe pháp, khiến các đệ tử nghe pháp đại ngộ. Nhưng thời gian ấy đã đi qua, ngày nay chúng ta nghe được đức Phật thuyết pháp như vậy, một mặt do ở văn tự trình bày là văn xưa, không dễ gì xem hiểu; mặt khác do ở chưa có nền tảng định, cho nên hoàn toàn hiểu rõ chỉ bày của Phật sẽ có khó khăn. Ở chỗ nầy, Tu Bồ Đề lại một lần nữa từ bi đề cập đến chúng sinh sau khi Phật diệt độ năm trăm năm. Về thời gian năm trăm năm sau là chỉ khoảng thời gian trên lịch sử Phật giáo có tranh luận. Cá nhân tôi đem vấn đề ấy lý giải là sau năm trăm năm thời kỳ mạt pháp, thậm chí cảm thấy tức là nói thời của chúng ta. Cũng có người nói đó là trong năm trăm năm sau khi Phật diệt độ, nhưng cho dù như thế nào đều là sự việc sau khi đức Phật diệt độ.

Vì sao ngài Tu Bồ Đề nói như vậy? Bởi vì Tu Bồ Đề trông thấy khi đức Phật còn ở đời cho dù mọi người nghe không hiểu lý tánh không, chẳng sinh khởi lòng tin hoặc có nghi hoặc đối với lời Phật nói, cũng có thể lập tức đi hỏi Phật, đức Phật liền đối với căn cơ mà thuyết giáo, khiến giải nghi cho mọi người. Nhưng đức Phật diệt độ khoảng năm trăm năm sau, đến thời kỳ mạt pháp, đức Phật đã rời xa rất lâu rồi, chúng sinh vẻn vẹn thấy được những lời nói câu văn nầy, nếu như tâm có mê mờ nghi hoặc, họ có thể tìm không được vị thầy giải quyết nghi vấn. Do đó, Tu Bồ Đề lại một lần nữa lo lắng cho chúng sinh thời mạt pháp, cũng là một tấm lòng Bồ tát, mong rằng giáo pháp của Phật có thể lợi ích cho chúng sinh mãi mãi.

Chỗ nầy Tu Bồ Đề nói: “Sau khi Phật diệt độ hoảng năm trăm năm sau, nếu như có người tin hiểu thọ trì bản kinh nầy, là điều ít có thứ nhất”. Đức Phật nói bổ sung rằng: “Vẫn có người nghe được kinh nầy, sau đó không kinh ngạc, không sợ hãi, không cảm thấy cao sâu khó làm, người như vậy rất ít có”. Nghe đến đây, có lẽ tâm tưởng

mọi người nghe pháp ở đây, bây giờ chúng ta rất nhiều người nghe được Kinh Kim Cang, cũng chưa thấy có người kinh ngạc, sợ hãi, nguyên nhân là chưa có mấy người nghe hiểu thật sự, cũng chưa có người tín tưởng, thọ trì, thực hành thật sự, do đó mọi người đều là trạng thái chẳng kinh ngạc, chẳng sợ hãi, chẳng lo sợ.

Nếu như thật sự nghe hiểu lời đức Phật nói, lìa tất cả tướng, từ trong mộng mê tỉnh giấc, giống như một người từ trong ác mộng tỉnh lại, kinh sợ thân toát mồ hôi. Nghĩ đến mình đã từng chấp trước danh, lợi, tình dục ở trong không gian thời gian, cần mẫn tìm cầu không mệt, so đo được mất, chạy theo danh, lợi, tình thể hiện tự ngã, tìm cầu giá trị của tự ngã, siêng năng không mỏi mệt chạy tìm sự thành công của danh, lợi, tình. Dùng nhận thức hẹp hòi của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong góc độ không gian ba chiều của loài người để nhìn nhận thế giới nầy, nhưng lại khát cầu vĩnh hằng và viên mãn của sinh mệnh. Tự mình ở thế giới nầy lưu luyến khó lìa mọi thứ sắc tướng không cách nào xác lập, không cách nào nhìn thấy một cách rõ ràng, luân chuyển đầu thai, do tham, sân, si, mạn, nghi, thậm chí tạo nghiệp đọa ba đường ác. Tất cả việc làm, chỉ là bởi vì chưa có nhận thức cùng trí tuệ viên mãn của Phật.

Khi chúng ta thật sự nghe hiểu được cảnh giới viên mãn của Phật, trí tuệ giác ngộ viên mãn, một niệm tỉnh giác, nghĩ đến mình suýt chút nữa thì có thể sẽ bị đọa lạc trong ba đường ác, nghĩ đến sơ xuất nầy, mà sống lưng phát lạnh, trên đầu toát mồ hôi lạnh; không cẩn thận bị vây khốn ở cõi người, các vị đại Bồ tát nghe Phật thuyết pháp

tỉnh giác rồi còn bị vô minh của mình dọa giật mình; còn những vị đệ tử thinh văn, đi theo đức Phật thời gian dài để nghe pháp, tai nghe tâm ghi nhớ, tinh tiến trì giới tu hành, bỗng nghe các pháp đều không, hết thảy chữ viết, nói năng, văn chương đều là giả gọi, lìa tướng tức Phật, nếu như không thể ngay lời nói đốn ngộ, liền sinh tâm kinh sợ. Do đó đức Phật nói: “Nếu như có người nghe được ngôn thuyết chương cú của kinh nầy, sau đó không kinh ngạc, không sợ hãi, thậm chí còn cho là hiếm có”, đức Phật nói thậm chí còn cho là hiếm có là chỉ bậc đại Bồ tát lìa hết thảy tướng, không phải là chúng sinh vốn chưa nghe chưa hiểu.

Đức Như lai nói tiếp: “Tu Bồ Đề, Như lai nói đệ nhất ba la mật, chẳng phải đệ nhất ba la mật đó chính là đệ nhất ba la mật. Nhẫn nhục ba la mật, chẳng phải nhẫn nhục ba la mật, đó chính là nhẫn nhục ba la mật”. Như lai nói như vậy, vẫn còn sợ các đệ tử chấp kẹt pháp tướng. Như lai cho rằng lý các tướng hư vọng đã nói phần trước, nếu như chúng sinh có thể liễu ngộ là phương pháp hay nhất từ trong luân hồi được giải thoát, trong hết thảy các phương pháp giải thoát là xếp bậc thứ nhất. Nhưng các đệ tử không nên cho rằng thật sự có pháp như vậy để đạt được, cần phải liễu ngộ trí tuệ nầy sau đó lập tức buông bỏ, phá trừ chấp trước của mình, an trụ nơi tri kiến Như lai mới là chính xác. Do đó, “đệ nhất ba la mật” chẳng phải thật sự có một cái gọi là đệ nhất ba la mật, chỉ là phương tiện giao lưu vì mọi người. Nói như vậy “tức gọi là Đệ nhất ba la mật”. Đức Phật tiếp tục dùng “Lục ba la mật” của các vị Bồ tát thường tu để giải thích.

Trong Bồ tát đạo, “Lục ba la mật đa” của Bồ tát đại thừa tu hành, còn gọi là “Lục độ”, tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, bát nhã (Trí tuệ). Bản ý mỗi một độ là hành giả thông qua tu hành có thể liễu ngộ nhơn không, pháp không. Thí như, khi tu nhẫn nhục ba la mật đa, giả như gần bên quí vị phát sinh ra một sự việc, khiến quí vị cảm thấy lòng tự tôn của mình, sĩ diện chịu sự tổn hại, thông thường phàm phu chúng sinh sẽ nhân đây sinh tâm phiền não, thậm chí còn sân hận, báo thù, nhưng Bồ tát đại thừa sẽ an trụ trong tất cả chánh tri kiến của Rốt ráo không, im lặng chuyển hóa, đây gọi là hạnh nhẫn nhục. Thời gian đầu tu hành, hành giả dù biết tất cả đều hư vọng, nhưng cảm giác thân tâm vẫn mãnh liệt như cũ, chỉ hay kiên trì giữ gìn chánh tri kiến của Phật, chẳng ôm oán hờn, không khởi sân hận, không bị cảnh bên trong bên ngoài thân tâm chuyển biến, cho nên gọi là nhẫn nhục ba la mật. Tức là chỉ có thể thông qua hạnh nhẫn nhục để thực chứng biết rõ hư vọng của các tướng, giải thoát sự trói buộc của thân tâm, giải thoát luân hồi.

Tùy theo hành giả công đức dần dần viên mãn, nhẫn nhục nầy cũng chẳng phải gọi là nhẫn nhục. Bởi vì trong trí tuệ căn bản của Phật pháp, hành giả cùng với người khác cho đến sự việc nhẫn, trên bản chất chỉ là giả tướng do nhân duyên tụ hợp xuất hiện ra, hàm chứa ý nghĩa không thật chất. Nếu hành giả đưa ra những phán đoán cho họ hoặc đúng, hoặc sai, rối ren không thoát ra được, tức là do đây sẽ bị mắc kẹt ở nhơn đạo, bị trói buộc trong giả tướng của muôn sự muôn vật không thể giải thoát.

Đức Phật nói: “Nhẫn nhục ba la mật, chẳng phải nhẫn nhục ba la mật, gọi là nhẫn nhục ba la mật”, liền bảo các đệ tử, khi tu hành lục độ, phải đầy đủ chánh tri kiến như vậy. Tuy nhiên đức Phật vì các đệ tử kiến lập pháp môn nầy, các đệ tử hầu như đang tu hành nhẫn nhục, nhưng ở trong cảnh giới Như lai viên mãn, ngay cả ô nhục không tồn tại, là các đệ tử lúc có tướng ngã, tướng nhơn, mới có ô nhục, mới có nhẫn. Các đệ tử cũng không thể dính mắc pháp tướng, cho rằng thông qua tu nhẫn nhục có thể được công đức, dùng thứ tâm có chỗ cầu để nhẫn. Công đức đúng đắn là quí vị có thể thông qua hành vi nầy, khiến tâm an trụ nơi cảnh giới chân không, không bị cảnh chuyển, trong tâm cảm thấy không có thứ gì không thể nhẫn, lúc bấy giờ quí vị từ trong các tướng giải thoát ra, đồng thời cũng sẽ biết hư vọng của các tướng. Do đó Phật nói, “Nhẫn nhục ba la mật” chỉ là một tên gọi, bản chất thật không có sự việc gì.

Đức Phật trong phần dưới của câu nầy, là vì chúng ta nhắc lại một câu chuyện tu hành trong kiếp trước của Ngài.

Ngài từng trải qua một kiếp, một mình tu hành ở nơi núi rừng tịch tĩnh. Có vị quốc vương tên là Ca Lợi, một hôm ông dẫn theo các phi tần của ông vào rừng săn bắn để làm thú vui, có vài cô phi tần phát hiện Phật đà (tức là vị tu hành kiếp trước) ngồi yên tĩnh dưới gốc cây, lòng sanh cung kính, bèn đứng bốn phía vây quanh Phật ca ngợi,

kính lễ, thỉnh pháp. Thái độ của các phi tần đối với Phật khiến trong lòng vua Ca Lợi khởi lên ganh tỵ, oán ghét, lại nghe Phật đang tu hạnh nhẫn nhục, vua bèn tuốt kiếm ra, đứng trước mặt các phi tần, lần nầy vua tới cắt hai tay, hai chân, xẻo tai, xẻo mũi vị tu hành ấy. Vua trông thấy người tu hành như như bất động, nét mặt trầm tỉnh, ông vừa xẻo vừa nói: “Ta không tin ngươi vẫn chẳng động tâm, không khởi sân hận”. Lúc bấy giờ Phật đà còn đang tu hạnh nhẫn nhục, chưa được viên mãn, đối với vua nói: “Nếu như tôi đối với ông chưa từng sinh khởi một niệm sân hận, thì xin hãy cho thân thể bị cắt đứt khôi phục lại như ban đầu.” Vừa nói xong, thân thể bèn khôi phục lại như cũ.

Đây là một câu chuyện vô lượng kiếp về trước đức Phật đang tu hạnh nhẫn nhục, Câu chuyện nầy trong kinh Phật có nhiều nơi ghi chép. Trong kinh Hiền ngu có nhắc đến câu chuyện ấy sau cùng, vua Ca Lợi được Phật cảm hóa, chí thành sám hối. Thời ấy đức Phật còn nói có một vị tiên nhơn rằng: “Ông vì nữ sắc, dùng gươm cắt thân thể ta, ta nhẫn như đất, sau nầy ta thành Phật, trước tiên dùng gươm trí tuệ, chém đứt ba độc của ông.” Có kinh điển ghi chép, sau nầy Thế tôn thành Phật, người thứ nhất được độ là vua Ca Lợi, cũng chính là tôn giả Kiều Trần Như.

Đức Phật còn nói: “Trong đời quá khứ, đã từng năm trăm kiếp làm vị tiên nhơn tu hạnh nhẫn nhục. Lúc đó, đều kiên trì giữ gìn chánh tri kiến vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả, mới viên mãn tu hạnh nhẫn nhục ba la mật.”

Nghe được câu chuyện Phật nói, chúng ta có cảm xúc gì? Có vài người bạn nghe được câu chuyện nầy nói, đức Phật có thần thông, tu hạnh nhẫn nhục bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể rồi đều có thể sống trở lại như cũ, cảnh giới đó không phải là cảnh giới phàm phu, chúng ta làm không được, phải chăng hạnh nhẫn nhục chưa viên mãn chăng? Không phải như vậy, đức Phật nêu ra đây là không phải nói với mọi người cần phải chuẩn bị nhẫn chịu hạnh khổ cực đoan, mà là bảo với quí vị, chỉ cần quí vị vô tướng nhẫn nhục liền có thể thành tựu.

Bình thường mọi người cũng tu nhẫn nhục ba la mật, nhưng chỉ tu khi tức giận, trong lòng đầy bất bình, sân hận, lòng đầy oan ức, thất vọng tràn trề đối với chúng sinh, thậm chí tuyệt vọng. Kỳ thật, chỉ là mọi người vẫn còn trụ trong cảm giác của tự ngã, vẫn còn nơi ý tướng của người khác thị phi, cho nên xuất hiện tướng nhẫn nhục, mọi người cũng chẳng gọi tu nhẫn nhục bát nhã ba la mật, chỉ là đang thừa nhận làm nhục, bởi vì quí vị chưa dựa theo chánh tri kiến của Phật để tu hành. Làm như vậy kết quả là không tính có một ngày quí vị nhẫn vô khả nhẫn, sẽ chẳng có kết quả khác. Con khi Phật làm vị tiên nhẫn nhục, có thời gian năm trăm kiếp thân tâm như như bất động, không bị trong ngoài thân tâm tất cả cảnh chuyển, không nhơn, không ngã, không chúng sinh, chẳng thấy sinh diệt, đây mới chính thật là “Nhẫn nhục ba la mật”.

Chúng ta cũng có thể từ góc độ khác nhìn lại câu chuyện của Phật. Nếu như chúng ta ở trong thời gian, không gian của nhơn đạo, không thể liễu ngộ lý của tánh không, dính mắc các thứ tướng, bị các thứ cảnh chuyển, thế thì tham sân si mạn nghi của tự ngã, danh lợi tình, các thứ dục vọng của chúng sinh cũng giống như vua Ca Lợi cùng gươm bén trong tay ông ấy, mỗi người sớm hay muộn sẽ bị cắt đứt thân thể không còn da, tan tành tả tơi. Chúng ta bị vây quanh trong huyễn cảnh ba cõi sáu đường, chưa từng thoát ra, không đường lối đi, cũng không còn đường thối lui, cứ như vậy trong vô thức giống như con quay đang xoay tròn như thế. Còn trí tuệ bát nhã của Phật, có thể khiến chúng ta trong huyễn cảnh của hết thảy tướng dừng bước, nhìn rõ lại thân tâm trong ngoài, tất cả tướng hư vọng không thật. Lúc bấy giờ, Như lai tự tánh viên mãn của chúng ta hiển hiện, chẳng thêm chẳng bớt, chẳng dơ chẳng sạch, luân hồi lâu xa kiếp cũng chẳng có thể hao tổn nó nữa phần, cũng giống như tiên nhẫn nhục lập tức có thể khôi phục thân thể dáng mạo như cũ, vua Ca Lợi cũng không thể làm tổn hại đến ông ta, huyễn cảnh ba cõi sáu đường cũng không thể nhiểm trước, không thể làm tổn hại tự tánh chân không viên mãn của chúng ta vốn có.

Câu chuyện nầy, dù trong kinh đức Phật chỉ có một câu nói thoáng qua, nhưng ngày nay chúng ta có thể lắng nghe được trí tuệ của Phật, đều là Phật ở trong lâu xa kiếp trải qua khổ hạnh khó hành có thể thực hành mới được kho báu, còn Ngài thì không tư lợi, Ngài chỉ dùng phương tiện khéo léo truyền dạy cho chúng ta. Mỗi người chúng ta lắng nghe được chánh tri kiến Phật đà, đều đang tiếp nhận bố thí lớn của Phật, nếu không có Phật chỉ đường, thì chúng ta sẽ lạc đường trở về cội nguồn cùa sinh mệnh, chúng ta sẽ dính mắc hết thảy tướng, bị mê hoặc cảnh giới trùng trùng lớp lớp.

Nhìn từ một góc độ khác, chúng ta cũng thấy được đức Phật dùng năm trăm kiếp chuyên môn tu nhẫn nhục ba la mật, và từng nhẫn chịu khổ hạnh cực đoan, còn chúng ta đôi lúc chỉ nhẫn chịu một chút va chạm thì bị đau khổ, thất vọng, lãnh đạm trong cuộc sống, đối với chúng sinh, đối với Phật mất đi lòng tin, tâm đạo thối thất. Do đó người lập chí thành đạo, thấy được câu chuyện nầy phải nên phản tỉnh lại.

Đương nhiên, đức Phật đang kể về chuyện tu hành trong kiếp trước của Ngài, chẳng phải đang khoe khoang mình, Ngài muốn nói với các đệ tử, kiếp xưa ta từng nghiêm túc như thế, hoặc là mượn câu chuyện nầy để hiển bày mình đã trải qua khổ hạnh vô lượng, ngày nay mới được thành tựu, bây giờ vô tư truyền dạy cho quí vị, quí vị phải nên cảm ơn. Nếu như đức Phật có một niệm như vậy, thì đức Phật lại dính mắc tướng, ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả, cũng không được gọi là Phật. Mục đích đức Phật nêu ra câu chuyện tiền kiếp là chỉ bảo các đệ tử, ta cũng đã từng trải qua nhận thức tu hành thành tựu như vậy, để cho các đệ tử thấy được ví dụ tấm gương cuộc sống, lòng tin tu hành kiên định.

Đức Phật nói tiếp: “Cho nên Tu Bồ Đề, Bồ tát nên lìa tất cả tướng, phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác, không nên trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, nên không trụ sanh tâm. Nếu tâm có trụ, tức là trụ sai.”

Những câu nói nầy là ý nghĩa gì? Nhân duyên mở đầu kinh Kim Cang là Tu Bồ Đề hỏi Phật: “Kẻ thiện nam, người thiện nữ, lúc phát tâm bồ đề cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên an trụ như thế nào, hàng phục phiền não vọng niệm như thế nào?”. Do đó, đức Phật trả lời vấn đề nầy, đức Phật nói, chúng sinh nên lìa tất cả tướng, phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác, mới có thể trên đường cầu pháp khiến tâm an trụ, không có phiền não. Nếu như chúng sinh chấp trước cảnh giới của sáu căn sáu trần, sau đó phát tâm cầu quả vị cánh đẳng chánh giác, muốn quay về cảnh giới chân không Như lai, đây là điều không thể được. Chỉ cần dính mắc tướng, phiền não, đau khổ sẽ không ngừng. Do đó chúng sinh một khi muốn phát tâm cầu quả vị chánh đẳng chánh giác, từ thời khắc ấy bắt đầu phải nên lìa tất cả tướng, tức là trong tu chứng như như bất động, trong ngoài thân tâm không bị cảnh chuyển. Trên cái nhìn thấu suốt trước sau giữ gìn được chánh tri kiến ‘Tất cả tướng hư vọng không thật’, không chỗ cầu, không chỗ đắc, phát tâm như vậy mới có thể trở về chân không Như lai. Dùng chánh tri kiến như vậy phát tâm, thì mới khiến tâm an trụ, hàng phục phiền não, vọng niệm. Nếu phát tâm muốn thành tựu giác ngộ viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác, muốn thành tựu quả vị Phật, nhưng tâm lại dính mắc các thứ tướng của thế giới nầy, các thứ nhơn tình ở thế gian, các thứ chấp thủ, so đo được mất, cho là có pháp có thể được, phát tâm như vậy là chẳng phải chánh kiến, chẳng phải vị trí của đại Bồ tát nên an trụ thân tâm. Vả lại, các tướng bản chất là hư vọng, cho dù tâm có chỗ trụ, cũng là an trụ trên nền tảng hư vọng, không cách nào thấy được thật tướng, thành tựu quả vị Phật.

Đức Phật còn nói: “Bởi vì đạo lý trên, do đó Ta đã nói, tâm Bồ tát không nên trụ sắc bố thí.” Trong phẩm thứ tư đức Phật đã nói qua, Bồ tát nên không chỗ trụ tu hạnh bố thí mới có thể viên thành Phật đạo. Ngay nơi đó, đức Phật nhắc lại “Chẳng trụ tướng bố thí”, trong nguyên văn là “Thị cố Phật thuyết”, biểu thị phần trước đã nói rồi. Trong đại thừa Bồ tát đạo, bố thí là đặt ở bậc thứ nhất. Trong lịch sử Phật giáo, các vị đại Bồ tát trong nhiều kiếp tu hành chọn pháp làm lợi ích chúng sinh, không vì mình, mà bố thí cho tất cả, thậm chí còn cho cả đầu óc, xương tủy, thân thể tính mạng. Nhưng trọng điểm ở đây đức Phật nhấn mạnh là Bồ tát khi tu hạnh bố thí, nhất định phải kiên trì giữ gìn trí tuệ bát nhã của Phật. Trong khi bố thí thời nào chốn nào phải thấy tánh không, không tự ngã, không tất cả vật bố thí, không thấy người nhận, không thấy chúng sinh nhận. Nếu không được như vậy thì hết thảy bố thí sẽ trở thành nghiệp thiện nhơn gian, việc làm của Bồ tát cũng sẽ biến thành cái pháp, vì lợi ích chúng sinh phải trả và hy sinh. Trong nguyên văn đức Phật nói như thế nầy: “Tu Bồ Đề, Bồ tát vì lợi ích tất cả chúng sinh, phải nên bố thí như vậy. Như lai nói tất cả các tướng tức là chẳng phải tướng, lại còn nói tất cả chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.”

Đức Phật muốn làm cho các đệ tử tin tưởng và ghi nhớ sâu đậm hơn, để cho các đệ tử hiểu rõ lời chân thật không hư dối của Phật nói, lại còn tốn sức lao tâm nói: “Như lai là chân ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả.” Chỗ nầy là nói cùng với chúng sinh đang mê hoặc, Như lai không dối gạt mọi người, các ông không nên nghi hoặc. Như lai là người chân chánh có thể nói ra thật tướng muôn pháp, bản lai diện mục của vạn vật, Như lai từ xưa đến nay không nói dối, không lừa gạt người khác, Như lai đã đạt đến điểm rốt cùng của thật tướng sinh mệnh, các pháp đã nói đều sẽ chỉ dẫn mọi người đi đến cùng một nơi, không xảy ra mâu thuẫn với nhau, khiến cho mọi người đến điểm cuối cùng chẳng giống nhau.

Tiếp theo đức Phật nói: “Pháp mà Như lai đắc, pháp nầy không thật không hư.” Ở phần trước, mọi người đã nghe đức Phật đã vài lần hỏi đáp với Tu Bồ Đề về Pháp, thí như trong phẩm thứ bảy: “ Phật hỏi Tu Bồ Đề, Như lai có pháp Ngài thuyết không?”; còn trong phẩm thứ mười: “Kiếp xưa Như lai ở nơi Phật Nhiên Đăng, có pháp để đắc không?”. Tu Bồ Đề nói: “Như lai kiếp trước nơi Phật Nhiên Đăng không có pháp để đắc.” Thông qua phần trước thảo luận đối với pháp, chúng ta nên biết, Phật pháp là thuốc tốt cho chúng sinh bệnh, khi chúng sinh đang mê muội chưa có chánh tri kiến của Phật thì không có pháp nào chuyển mê làm ngộ được, không có pháp nào thật sự triệt để từ trong mộng bừng tỉnh dậy. Trên ý nghĩa nầy, Phật pháp là chân thật chẳng hư dối, là thực tại hiện thực, là chỗ cho chúng sinh nhu cầu nương tựa. Nhưng khi chúng sinh từ trong mộng tỉnh lại, tất cả nhưng pháp môn tu hành, đạo giải thoát v.v… cũng giống như trong cảnh mộng, cũng hư vọng không thật. Nhưng đức Phật lo lắng có những đệ tử nghe được câu “Tất cả tướng hư vọng”, sau đó cho rằng Phật pháp tức là cái hư vọng không thật, liền có thể không cần trì giới tu hành. Cho nên chỗ nầy lại nói đến “Pháp Như lai đắc, pháp nầy không thật không hư”, tức chẳng phải chân thật,

cũng chẳng thể phủ định, lúc chúng sinh mê muội, pháp là chỗ nương tựa, là ngọn hải đăng của giải thoát.

Tiếp theo đức Phật dùng một ví dụ nói về bố thí, nguyên văn là: “Tu Bồ Đề, Bồ tát tâm trụ nơi pháp mà thực hành bố thí, như người đi vào bóng tối, tức không thấy gì cả. Còn tâm Bồ tát không trụ nơi pháp mà thực hành bố thí, như người có mắt, ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy rõ tất cả sắc màu.”

Xác thật, trong Bồ tát đạo, nếu hành giả thực hành hạnh bố thí, trong đó có thể lĩnh ngộ nương theo chánh kiến bát nhã của Phật mà làm, thí như không thấy người bố thí, không thấy vật bố thí, không thấy người nhận, ngay cả hành vi bố thí không chỗ cầu, không chỗ đắc, Bồ tát liền có thể dần dần ra khỏi từ trong muôn pháp của thế giới nầy, từ đó thấy rõ ràng thật tướng muôn pháp. Quá trình ấy, thật sự giống như đức Phật ví dụ không khác, dùng chánh kiến bát nhã chỉ dẫn bố thí, giống như ánh sáng mặt trời chiếu sáng, nhanh chóng phá trừ vô minh và bóng tối trong tâm Bồ tát. Nếu như ôm chặt tâm hạnh bố thí có chỗ cầu, có chỗ dính mắc, cho dù Bồ tát bố thí có nhiều, có lâu đi nữa, vẫn bị trong vô minh hắc ám vây kín lâu dài, ánh sáng trí tuệ không cách nào hiển hiện, không cách nào chứng nhập tánh không.

Đức Phật tiếp tục động viên hết thảy đệ tử, nhắc đến đời sau nầy, đương nhiên cũng bao gồm chúng ta, muốn thọ trì đọc tụng, tín thọ phụng hành trí tuệ trong bộ kinh nầy giảng thuyết. Ở đây đức Phật nhắc lại, trí tuệ nầy có thể mang lại công đức cho chúng ta, Ngài nói: “Tu Bồ Đề, ở đời sau nầy, nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ, hay đọc tụng kinh nầy còn tín thọ phụng hành, Như lai dựa vào trí tuệ vô lượng của Phật khẳng định chắc chắn rằng, người nầy tương lai thành tựu công đức vô lượng vô biên.”

Trong phẩm thứ mười lăm, đức Phật ví dụ tiếp theo rằng: “Tu Bồ Đề, giả như có người thiện nam, kẻ thiện nữ, buổi sáng mỗi ngày dùng thân thể tánh mạng tương đương nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, buổi trưa cũng lại dùng tánh mạng thân thể nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, thời gian trải qua trăm ngàn muôn ức năm như vậy đều dùng thân thể tánh mạng như vậy để bố thí. Nếu Như lại có một người, nghe được bộ kinh điển nầy, sinh khởi lòng tin tuyệt đối, thì phước đức người nầy con hơn người trước đó nữa, huống là người chép kinh, thọ trì đọc tụng, vì người khác giảng nói.”

“Tu Bồ Đề, nói tóm lại, bộ kinh nầy có công đức không thể nghĩ bàn, không thể đo lường, không ngằn mé. Kinh ấy vốn từ đức Như lai vì sinh khởi Bồ tát đại thừa tự độ, độ tha mà nói, vì người sinh khởi cầu chứng quả Phật cao nhất, vì người giác ngộ viên mãn nhất mà nói. Nếu như có người hay tự mình tu chứng, đọc tụng bộ kinh nầy, vì người khác giảng thuyết rộng rãi, Như lai hoàn toàn có thể khẳng định người nầy tương lai sẽ thành tựu công đức không thể nghĩ bàn, không thể đo lường, biên giới không cùng, người nầy tức là vai gánh giáo pháp Như lai cao nhất, viên mãn nhất.”

“Tu Bồ Đề! Vì sao nói như vậy? Nếu như có một người chỉ ưa thích tìm cầu học tập những giáo lý chẳng cao, chẳng viên mãn, chấp trước, thủ xả trong các thứ tri kiến nơi tự ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả, thế thì người ấy đối với giáo lý của bộ kinh nầy, nhất định không thể lắng nghe tiếp nhận, chứ đừng nói đọc tụng cho đến vì người khác giải nói.”

Chỗ nầy đức Phật đề cập đến khái niệm một người “Vui thích pháp nhỏ”, thế nào là “ưa thích pháp nhỏ”? Thí như mọi người dính mắc tướng ngã, tướng thọ giả, liền chỉ biết cầu pháp sống lâu không chết, cầu thần thông, pháp thuật thần biến, đây là người ưa thích pháp nhỏ, tức là nghe chẳng đạt tới lý tánh không của Phật thuyết. Cho dù nghe rồi sau đó cảm thấy có đạo lý, cũng không biết tự mình an trụ trong tri kiến chân không để tu chứng. Thí như, không biết dụng tâm vô sở cầu, vô sở đắc để bố thí; cũng không biết dùng tất cả tướng hư vọng để nhẫn nhục, vả lại, thâm sâu trong lòng rốt cùng thước tiếc tự ngã, sợ tự ngã oan ức, tổn thương; đi học tập tất cả pháp thuật thậm chí còn tu thiền định, cũng là vì khoe hoang tự ngã, triển hiện tự ngã chẳng

hòa đồng cùng mọi người, triển hiện phương thức cá tính phong thái tự mình. Do đó Phật nói:” Những người ưa thích pháp nhỏ nầy, đối với trí tuệ bát nhã tối cao của kinh nầy, không thể nghe và tiếp nhận đọc tụng, vì người khác giải nói.”

“Thế thì, vì sao nói người ưa thích pháp nhỏ không thể an trụ trong chánh kiến tánh không? Nguyên nhân là người ưa thích pháp nhỏ nầy, còn dính mắc tướng tự ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, do đó mới biết ưa thích với học tập, tiếp nhận một vài pháp nhỏ chẳng rốt ráo, đối với chánh kiến đại thừa tánh không có thể nghe tin nhận đọc tụng, vì người khác giải nói.”

“Tu Bồ Đề, ở bất cứ nơi nào, nếu như có được bộ kinh nầy, thì tất cả người cõi trời, a tu la.v.v… đều nên cúng dường, nơi đó xứng đáng được xem như có tháp xá lợi Phật, đều nên cung kính, lễ bái, nhiểu quanh, tung rải các thứ hương hoa cúng dường nơi ấy.”

Trong phẩm thứ mười sáu đức Phật nói tiếp theo: “Lại nữa Tu Bồ Đề, Nếu như người thiện nam, kẻ thiện nữ, vì tin nhận tu hành, đọc tụng kinh nầy, gặp người khác khinh rẻ, bị sỉ nhục chế giễu, giả như người nầy kiếp trước cũng từng có nghiệp ác, quả

báo, đáng đọa ba đướng ác, đến đời nay trì kinh nầy nguyên nhân bị người khinh rẻ, tội nghiệp đời trước tức do đây mà tiêu trừ, mà còn đạt đến giác ngộ viên mãn cao nhất.

Chỗ nầy đức Phật đề cập đến trí tuệ của quyển kinh có thể tiêu trừ nghiệp ác. Nếu như có một người bị nghiệp tội đáng phải đọa đường ác, do vì thọ trì tu chứng trí tuệ bộ kinh nầy mà bị người đời khinh rẻ, đó là do nghiệp ác đời trước, thì sẽ do đây mà tiêu diệt. Đây gọi là quả báo lớn hóa thành nhỏ, rồi hoá thành không, vốn phải bị đọa ba đường ác, nhưng chỉ nhận quả báo bị người khinh rẻ, rốt cuộc đem báo ác hóa thành vô hình, vả lại còn khẳng địnhcó thể đạt đến giác ngộ viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nghe được đức Phật nói như vậy, tôi cho rằng ở thời mạt pháp, thật sự là một lời nói phấn chấn lòng người.

Giảng đến đây, nhớ đến từng có một người bạn, khi ấy anh ta đang tín thọ phụng hành Kinh Kim Cang, khi đọc đến đoạn kinh nầy, đối với tôi mà nói, tôi khẳng định đời đời kiếp kiếp tao nhiều nghiệp ác, cho dù một kiếp sống mấy mươi năm, tạo tác cũng chẳng là bao. Đức Phật nói, chỉ cần khi ấy ta thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang, có người khinh dễ ta, thì ta có thể đem báo ác tiêu mất, và có thể khai ngộ. Bây giờ khổ, là chưa có người tìm đến khinh dễ tôi, quí vị là bạn bè tôi, giúp đỡ tôi, khinh dễ tôi đi.

Đương nhiên chỉ là một chuyện đùa. Kỳ thật, nếu như quí vị thật sự hiểu rõ vô ngã cũa đức Phật, đạo lý không chúng sinh, thì niệm trước của quí vị đó là người đang đọc kinh, từng tạo qua nghiệp ác, đáng đọa địa ngục, một niệm sau của quí vị tức là người khinh rẻ niệm trước. Hiểu rõ vô có ta, không có người, sau đó quí vị khẳng định nghiệp ác đã hết, và có thể thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Đương nhiên, nếu như thật sự trên thế gian nầy, khi quí vị tu chứng lý bát nhã tánh không nhận chịu người khác khinh rẻ, chửi bới, vu cáo, quí vị phải nên ghi nhớ lời Phật nói, không nên sân giận, phải nên lễ lạy cảm ơn họ, bởi vì họ đang giúp cho quí vị tiêu trừ nghiệp ác. Kỳ thật trên thế giới nầy, nhất là trong mấy mươi năm trước, nếu quí vị vì người khác giảng giải lý bát nhã tánh không, chắc chắn sẽ có người nói quí vị mê tín, không phải chánh nghiệp, có lẽ chỉ cần nêu tên kinh Kim Cang, liền bị người khinh dễ, đâu cần tới thọ trì đọc tụng. Nhưng vài năm gần đây, nhiều người bắt đầu tìm hiểu ý nghĩa sự sống và chân tướng của sinh mệnh, cái nhân ngu muội khinh rẻ và phỉ báng nầy mang lại ít nhiều.

Đức Phật nói tiếp: “Tu Bồ Đề, bây giờ Ta nhớ lại thời quá khứ lâu xa vô lượng kiếp, Ta từng ở nơi Phật Nhiên Đăng, gặp được tám trăm bốn ngàn vạn ức na do tha vị Phật, Ta đều hết lòng hết sức cúng dường hầu hạ, tuyết đối không lãng phí mỗi một lần gặp gở khó được. Nếu như lại có người, sau khi Ta nhập diệt, ở thời mạt pháp, có thể đủ lòng tin nhận phụng trì, đọc tụng bộ kinh nầy, người đó được công đức bằng với công đức Ta cúng dường, tin tưởng, thờ phụng chư Phật, công đức của Ta kém xa một

phần trăm, một phần ngàn, một phần vạn, một phần ức vạn của người đó, cho đến căn bản không cách nào dùng phương pháp tính toán hay thí dụ để so sánh.”

“Tu Bồ Đề, nếu như có kẻ thiện nam, người thiện nữ ở thời kỳ mạt pháp sau khi ta diệt độ, có thể tín thọ, tu trì, đọc tụng kinh nầy, được phước báo, công đức, giống như lời thí dụ tỉ mỉ trên, có lẽ có người nghe thấy về sau căn bản không cách lý giải, nghi hoặc không tin.”

“Tu Bồ Đề, nên biết hiểu rõ nghĩa lý bộ kinh nầy đã nói, không thể nghĩ lường, quả báo tu tập kinh nầy cũng không thể nghĩ bàn.”

Trong đoạn nầy Phật nói, không chỉ khen ngợi công đức thọ trì đọc tụng bộ kinh nầy, mà còn nói quả báo không thể nghĩ bàn. Mọi người đều biết, Phật pháp là giảng về nhân quả, gieo nhân thế nào thì được quả báo như thế đó. Làm lành có báo lành, làm ác có báo ác. Bây giờ đọc kinh Kim Cang hiểu rõ trí tuệ bát nhã của Phật, đây cũng là nhân, mà nhân nầy quả báo được thật là vượt hơn hết thảy tưởng tượng của quí vị, không thể nghĩ bàn. Trí tuệ bát nhã mang lại tất cả tướng công đức, đức Phật nói: “Nếu như Ta nói ra, có người lắng nghe tâm có thể cuồng loạn, hồ nghi không tin.” Tôi tin tưởng, hôm nay chúng ta tự cho rằng khoa học rất phát triển, nhưng đối với hết thảy chân tướng của sinh mệnh gồm chưa hiểu rõ. Cho dù hôm nay đức Phật nói ra trí tuệ bát nhã có thể mang lại công đức, không chỉ là người chẳng tin Phật giáo hồ nghi chẳng

tin, cho dù là người tin sâu Phật giáo cũng sẽ trong lòng cuồng loạn, bởi vì rất chẳng thể nghĩ bàn, vượt hơn ý thức con người nhận biết rất giới hạn.

Viết một bình luận