Nhĩ thời, Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế tôn! Đương hà danh thử kinh, ngã đẳng vân hà phụng trì?”. Phật cáo Tu Bồ Đề: “Thị kinh danh vi Kim Cang bát nhã ba la mật”, dĩ thị danh tự, nhữ đẳng phụng trì. Sở dĩ giả hà? Tu Bồ Đề! Phật thuyết bát nhã ba la mật, tức phi bát nhã ba la mật, thị danh Bát-nhã ba-la-mật. Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như lai hữu sở thuyết pháp phủ?” Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế tôn! Như lai vô sở thuyết”. “Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới sở hữu vi trần thị vi đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đa,Thế tôn!”. Tu Bồ Đề! Chư vi trần, như lai thuyết phi vi trần, thị danh vi trần. Như lai thuyết: Thế giới, phi thế giới, thị danh thế giới. Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như lai phủ? “Phất dã, Thế tôn! Hà dĩ cố? Như lai thuyết: Tam thập nhị tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng. “Tu Bồ Đề! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn,dĩ hằng hà sa đẳng thân mệnh bố thí; nhược phục hữu nhơn, ư thử kinh trung, nãi chí thọ trì tứ cú kệ đẳng, vị tha nhơn thuyết, ký phước thậm đa.”
Đại ý phẩm nầy là ngài Tu Bồ Đề hỏi đức Phật rằng: “Thưa Thế tôn, nên gọi bộ kinh nầy như thế nào? Chúng con nên vâng giữ hành trì như thế nào?” Đức Phật giảng pháp đến đây, Tu Bồ Đề cho rằng nội dung phần trước nên có tên gọi mang tính tổng
kết, để cho mọi người dễ dàng ghi nhớ, lý giải, truyền tụng, bèn hỏi Phật nên đặt tên gọi như thế nào có thể bao hàm tất cả nội dung phần trước đã biểu đạt?
Đức Phật nói: “Quyển kinh nầy có thể đặt tên là ‘Kim cang bát nhã ba la mật’, các ông có thể căn cứ ý nghĩa tên gọi nầy để biểu đạt mà tín thọ phụng hành.” Chỗ nầy đức Phật đem đạo lý khai thị phần trước lấy kim cang để làm ví dụ, kim cang là khoáng vật cứng nhất trên địa cầu, có thể dùng phá hủy, cắt đứt các thứ vật chất khác mà nó không bị hư tổn. Đức Phật dùng nó để ví dụ đạo lý khai thị giống như kim cang vậy, không có loại nào cứng mà không bị nó phá hư, có thể phá hủy phiền não, chẳng chánh kiến của quí vị, khiến cho quí vị từ bờ luân hồi bên đây, đạt đến bờ giải thoát bên kia.
Nhưng đức Phật lập tức nói tiếp, gồm chẳng thật sự có một thứ trí tuệ tồn tại. Nguyên văn là: “Tu Bồ Đề, ông cho rằng Như Lai có chỗ thuyết pháp không?” Tu Bồ Đề nói: “Bạch đức Thế tôn! Như Lai không có chỗ thuyết pháp.”
Ở trong kinh, đặt rất nhiều câu hỏi đều là tuần tự lập lại, điều nầy hiển bày từ bi của Phật, đồng thời cũng là lý giải của Phật đối với các đệ tử. Đối với Phật pháp lĩnh ngộ được lý vô tướng, lúc chưa hoàn toàn triệt ngộ, rất nhiều người đều là nghe hiểu một vài đạo lý sau đó cảm thấy mình hầu như đã trải qua đại mộng vừa tỉnh giấc, nhưng khi gặp một vấn đề khác, lại bị dính mắc, mê muội mất đường tiến tới. Do đó, đức Phật luôn cố gắng trong mỗi khái niệm, danh tướng mà Ngài đề cập đến, mỗi lần như vậy
Ngài khẳng định đối với tất cả đều nhắc nhở chỉ bày đệ tử không nên cầu pháp ở ngoài tâm.
Thí như, câu “Như Lai có pháp mà Ngài thuyết giảng không?”, đây là sợ các đệ tử dính mắc pháp tướng, lần thứ hai hỏi Tu Bồ Đề cái vấn đề cũng giống như vậy. Lần thứ nhất trong phẩm thứ bảy, sau khi đức Như Lai thuyết chúng sinh thọ trì bộ kinh nầy, công đức rất lớn, không thể nghĩ bàn xong, rồi nói tất cả chư Phật đều từ kinh nầy mà ra. Như Lai sợ các đệ tử dính mắc pháp của Phật thuyết, cho là có pháp để đắc, mà không phản quan tự kỷ, như như bất động, an trụ trên cá nhìn sáng suốt của Tánh không, do đó hỏi Tu Bồ Đề “ hư Lai có pháp gì để thuyết chăng?” Tu Bồ Đề lần thứ nhất trả lời: “Không có pháp cố định Như Lai có thể thuyết”, lần nầy Tu Bồ Đề trả lời: “Như Lai không có cái pháp có thể thuyết”.
Hai câu trả lời của Tu Bồ Đề cũng có thể dùng hai góc độ để lý giải, “Không có cái pháp cố định có thể thuyết giảng” là trả lời trên bề mặt mà có, là chỉ rõ vốn không có một cái pháp cố định gọi là Phật pháp. Chỉ cần pháp mà có thể phá chấp trước chúng sinh, khiến chúng sinh từ trong mê mộng tỉnh giấc, từ trong luân hồi giải thoát đều là Phật pháp. Đức Như Lai tùy căn cơ mà trình bày giáo pháp, cũng không có cái pháp cố định để giảng thuyết.
Lần trả lời thứ hai là ở góc độ an trụ chân không Như lai vốn có. Trạng thái tánh không của Như lai là tự tánh của mỗi chúng ta vốn có, cũng là bản lai của chúng ta. Ngoài ra bất cứ tướng gì khác ở trong không gian thời gian xuất hiện, đều là sự sinh sinh diệt diệt của giả tướng do sau khi nhân duyên hợp đủ, trong đó vốn không có một tự ngã chân thật. Trong Phật pháp cái giả có của tự ngã được ví như một giấc mộng, mọi người nhận mộng làm chân, trở thành nhân vật chính trong mộng, ở trong mộng điên đảo vọng tưởng, luân hồi sinh tử. Người chưa giác ngộ nghe Phật thuyết pháp cũng giống như ở trong mộng giao lưu với Phật, giống như trong mộng quí vị bệnh hoạn, đức Phật chế một thang thuốc cho quí vị, đợi khi quí vị tỉnh mộng thì biết Như lai vốn chưa làm một việc gì. Những sự việc trong mộng chẳng phải chân chẳng phải giả, xác thật trong mộng quí vị đã uống thuốc, nhưng khi tỉnh giấc rồi thì quí vị vốn chẳng có bệnh, chuyện bệnh biến thành hư vọng không thật, chỉ là mộng, đức Như lai kê thuốc cho sự việc nầy cũng hư vọng không thật. Cho nên ở đây Tu Bồ Đề nói “Như lai vốn không có pháp gì để thuyết”. Nếu như chúng ta không thể hiểu được Phật và Tu Bồ Đề là đứng trên góc độ bản tánh chân không để hỏi và trả lời, thì sẽ nghi hoặc, rõ ràng phần trước đức Phật nói cả một đống đạo lý, rất nhiều ngôn từ như vậy, trái lại nói Như lai không có pháp gì để thuyết (Như lai ở đây là chỉ tự tánh vô hình vô tướng của chúng ta).
Đức Phật tiếp tục khai thị cho các đệ tử. Đức Phật hỏi Tu Bồ Đề: “Tu Bồ Đề, ông cho rằng như thế nào? Hết thảy vi trần trong ba ngàn đại thiên thế giới, số lượng có nhiều không?”
Tu Bồ Đề trả lời: “Thưa Thế tôn, rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, những vi trần nầy không có một thật thể bất biến thật sự tồn tại, Như lai chẳng qua đặt cho chúng một cái tên giả, gọi nó là vi trần thôi. Như lai nói đến thế giới, hết thảy thế giới cũng chỉ là đầy đủ nhân duyên mà sinh, nhân duyên đầy đủ mà diệt, chứ không có một thế giới cố định bất biến chơn thật, chỉ là tùy thuận thế tục, đặt tên giả cho chúng là thế giới mà thôi”.
Trong Phật pháp thường đề cập đến thế giới vi trần, ví như ba nghìn đại thiên thế giới nhiều vô kể, muôn hình vạn trạng vô lượng vô biên. Chỗ này, ở phần trước đức Phật luôn luôn nói với các đệ tử, trước mắt trong vấn đề tu chứng dễ xuất hiện chấp trước và mê hoặc, thí như phát tâm như thế nào? Bố thí, nhẫn nhục ra làm sao? Nhìn nhận về quả vị A la hán, công đức trang nghiêm của Bồ tát như thế nào? Làm thế nào nhìn nhận Phật pháp đúng đắn? Như lai có hình tượng cố định không? v.v…. Những vấn đề nầy đều là các đệ tử thường phải đối mặt hằng ngày, trong những vấn đề nầy phải nên nắm giữ chánh tri kiến của Phật, mới có thể ở trong việc tu chứng càng ngày càng an tâm, hết sức mau chóng trở về cảnh giới chân không Như lai.
Lúc bấy giờ, đức Phật từ những việc các đệ tử đang quan tâm trước mắt, muốn đầu óc các đệ tử hướng về thế giới vô lượng vô biên nhiều như các vi trần, nói với các đệ tử, muôn sự muôn vật, bao gồm cả ba ngàn đại thiên thế giới tất cả đều là giả danh, trong cảnh giới của Như lai chẳng qua là vọng niệm của tâm mà thôi. Vọng tâm sinh khởi, thế giới vi trần sinh khởi; tâm vọng diệt, thế giới vi trần như giấc mộng.
Đang lúc ý thức của các đệ tử đột nhiên từ những việc trước mắt chuyển hướng sang tất cả thế giới vô lượng vô biên nhờ vào lời khai thị của đức Phật, đức Phật lại đem tiêu điểm vấn đề quay trở lại vào thân công đức của Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Có lẽ cái thân công đức nầy trong tiềm ý thức của những đệ tử kia khát cầu thị hiện, là các đệ tử kính sợ, không dám ở trong lòng thêm vọng tưởng suy đoán bình luận, trọng lượng của Ngài đang ở trong tâm các đệ tử so sánh còn nặng hơn ba ngàn đại thiên thế giới. Nguyên văn đức Phật tiếp tục hỏi Tu Bồ Đề: “Chúng sinh có thể thông qua ba mươi hai tướng để thấy Như lai không?”.
Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế tôn! Không thể thông qua ba mươi hai tướng thấy Như lai. Vì sao? Bởi vì Phật nói thân tướng Như lai có ba mươi hai thứ kỳ diệu trang nghiêm, cũng chỉ là công đức, nhân duyên đầy đủ mà hiện ra trong không gian thời gian, chứ chẳng phải Như lai thật có bất cứ tướng nào. Chỉ là phương tiện tùy thuận thế tục giao lưu, xưng gọi Như lai có ba mươi hai tướng đặc biệt”.
Bởi vì sợ chúng sinh chấp trước vào tướng của Phật để thấy tánh, chỗ nầy cũng là lần thứ hai đức Phật hỏi cùng một vấn đề. Lần thứ nhất ở phẩm thứ năm, Phật hỏi Tu Bồ Đề: “Có thể lấy cái tướng thân mà trông thấy Như lai không?” Tu Bồ Đề trả lời: “Không thể được”. Bởi vì chúng sinh muốn được giải thoát từ trong các thứ chấp trước, phân biệt, thấy được tự tánh Như lai, trong đầu không thể đem Như lai định nghĩa bằng bất cứ một tướng nào. Nếu như cho rằng Như lai có tướng cố định có thể thấy, tức thành Phật là trở thành từ một tướng biến thành một tướng khác, như vậy thì chúng ta mãi mãi không thể trở về chân không, cũng không thể thật sự hiểu rõ cảnh giới Như lai. Do đó, đối với chúng sinh đã dính mắc “Có”, thì Như lai giảng “Vô tướng”, để cho quí vị buông bỏ cái chấp trước và việc cho là thật đối với cái tướng thân.
Lần trước Như lai nói không nên lấy cái tướng thân để trông thấy Như lai, là chỉ chúng sinh không thể chấp trước một cái sắc tướng cố định thấy Như lai. Thí như nói đến Phật Thích Ca Mâu Ni, có người trong đầu sẽ xuất hiện một hình tượng của Phật, điều nầy không có vấn đề gì, nhưng nếu như chấp trước Như lai là hình dáng ấy tức là sai lầm. Nếu như tri kiến nầy không rõ ràng chính xác, thì hành giả đang tu thiền, nếu như thấy được trong hư không xuất hiện một tượng Phật, có lẽ sẽ cho rằng mình mau chóng thành đạo rồi, vì đã trông thấy được tướng thật Như lai, hoặc là ở trong tâm đang theo đuổi dáng vẻ Phật tự mình biến thành trong tưởng tượng.
Do đó trong phẩm nầy, đức Phật làm rõ lại vấn đề. Nếu như quí vị không cho rằng Phật có sắc thân cố định giống như một người bình thường, quí vị có cho rằng Phật có tướng thân hình đẹp ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp chăng? Nếu như quí vị trên đường thành đạo tưởng chấp rằng mình phải biến thành một thân tướng như vậy, tưởng chấp Như lai là thân tướng như vậy, quí vị sẽ mãi mãi không cách nào trở về cảnh giới chân không Như lai. Vì ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp của thân cũng chỉ là một cái tướng công đức, các tướng đều hư vọng không thật.
Ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, là một vị Bồ tát trên đường tu sau khi công đức viên mãn, ở cõi người có thể hiển hiện ra thân tướng viên mãn nhất. Như đức Phật Thích Ca Mâu Ni vừa sinh ra, thân hình, khí mạch, có đầy đủ tướng đặc trưng như vậy. Trong kinh điển còn nói bậc chuyển luân thánh vương cũng có đầy đủ ba mươi hai tướng như vậy, nhưng không có tám mươi vẻ đẹp. Tuy nhiên hình dạng mà một vị Phật hiện trong không gian, thời gian ở các cõi sẽ do cộng nghiệp của chúng sinh và nhu cầu chúng sinh thành đạo để định. Cho dù ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp chỉ là Như lai hóa cảnh, nhưng người công đức chưa viên mãn rất khó hóa hiện hình dáng thân tâm viên mãn như vậy. Cho dù, thần thông đầy đủ có thể biến hóa ra, nhưng tế hạnh của tám mươi vẻ đẹp rất khó chiếu cố chu toàn, bởi vì phải cần tâm tánh viên mãn mới có thể thành tựu.
Cuối phẩm nầy đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, giả như có người thiện nam, kẻ thiện nữ, dùng thân thể tánh mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, nếu như có người có thể tin hiểu vâng làm theo kinh nầy, theo đây tu hành, cho đến chỉ lĩnh ngộ bốn câu kệ tụng trong kinh mà tùy duyên vì người khác giảng giải, được phước đức còn hơn người trước.”
Hết thảy trong không gian, thời gian, chúng sinh thương tiếc nhất không có gì hơn thân thể tính mệnh của mình. Tục ngữ nói, con kiến cũng thương tiếc mạng sống, nhưng người thiện nam, kẻ thiện nữ cho dù ở vô lượng kiếp, vì thành đạo mà không tiếc thân thể và tính mệnh của mình bố thí, đều so sánh không bằng phước báo thọ trì bốn câu kinh nầy. Ở đây đức Phật bảo chúng ta, cho dù chúng ta vì pháp mong muốn xả bỏ thân thể tính mạng, nhưng không hiểu rõ lý vô tướng của Phật pháp, vọng tâm, vọng niệm bị cảnh dắt lôi, luân chuyển không ngừng, việc thành đạo trở nên xa vời không có kỳ hạn. Nếu như hay tin tưởng thọ trì kinh nầy rồi, sau đó một niệm từ trong mê lầm và cám dỗ của các tướng được tỉnh lại, lập tức thấy tánh thành Phật, đức Phật lấy điểm quan trọng nầy để giải thích rõ trí tuệ bát nhã đối với người tu hành.