Nhĩ thời, Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” Phật cáo Tu Bồ Đề: “Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, đương sanh như thị tâm, ngã ưng diệt độ nhất thiết chúng sinh. Diệt độ nhất thiết chúng sinh dĩ, nhi vô hữu nhất thiết chúng sinh thật diệt độ giả.
Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhược Bồ tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ tát.
Sở dĩ giả hà? Tu Bồ Đề! Như lai ư Nhiên Đăng Phật sở, hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề phủ? Phất dã, Thế tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, Phật ư Nhiên Đăng Phật sở, vô hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Phật ngôn: Như thị! như thị ! Tu Bồ Đề! Thật vô hữu pháp Như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Nhược hữu pháp đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, Nhiên Đăng Phật tắc bất dữ ngã thọ ký: Nhữ ư hậu thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni. Dĩ thật vô hữu pháp đắ a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thị cố Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: Nhữ ư hậu thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Hà dĩ cố? Như lai giả, tức chư pháp nghĩa. Nhược hữu nhơn ngôn: Như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Thật vô hữu pháp, Phật đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Như lai sở đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ư thị trung vô thật vô hư. Thị cố Như lai thuyết: Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Tu Bồ Đề! Sở ngôn nhất thiết pháp giả, tức phi nhất thiết pháp, thị cố danh nhất thiết pháp. Tu Bồ Đề! Thí như nhơn thân trường đại. Tu Bồ Đề ngôn: Thế tôn ! Như lai thuyết: Nhơn thân trường đại, tức vi phi đại thân, thị danh đại thân. Tu Bồ Đề! Bồ tát diệc như thị. Nhược tác thị ngôn: Ngã đương diệt độ vô lượng chúng sinh, tức bất danh Bồ tát.
Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Vô hữu pháp danh vi Bồ tát. Thị cố Phật thuyết: Nhất thiết pháp vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nhược Bồ tát tác thị ngôn, ngã đương trang nghiêm Phật độ, thị bất danh Bồ tát.
Hà dĩ cố? Như lai thuyết: Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nhược Bồ tát thông đạt vô ngã pháp giả, Như lai thuyết danh chân thị Bồ tát.
Mở trang kinh Kim Cang, duyên khởi ở tôn giả Tu Bồ Đề đối với Phật nêu ra một vấn đề. Nguyên văn là: “Thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Nên hàng phục tâm như thế nào?”
Trong phẩm thứ mười bảy, Tu Bồ Đề đối trước Phật nhắc lại vấn đề ấy, nguyên văn là: “Lúc bấy giờ, Tu Bồ Đề thưa với đức Phật rằng, Bạch Thế tôn, thiện nam tử, thiện nữ nhơn, phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Nên hàng phục tâm như thế nào?
Mọi người có thể so sánh xem đoạn văn trên và đoạn văn dưới, Tu Bồ Đề nêu ra vấn đề là giống nhau, đức Phật đáp lời cũng cơ bản giống nhau. Nhưng mở đầu trang đức Phật đem toàn văn triển khai tiến hành đáp lại, vì trong tâm các đệ tử phải nên phá tướng và chấp trước rất nhiều, không phải chỉ bày một hai câu nói có thể khiến các đệ tử phá hết được. Còn phẩm thứ mười bảy đáp lời lại của đức Phật, là để xây dựng ở phần trước, tất cả đã chỉ bày ở trên, chỉ là đến đây, đức Phật cho rằng Tu Bồ Đề cùng các đệ tử còn có một cái chấp trước trên bản thể chưa phá, chỗ nầy vẫn là căn bản “ngã tướng”. Vẫn còn có một cái “tâm” có thể nói Không nói Có, “Tâm” như như bất động, “tâm” chẳng phải không tức có, gọi là Như lai, Chân không, Tự tánh, Phật.v.v…. còn có một cái “tướng” như vậy ở trong tâm các đệ tử. Đức Phật bắt đầu phá chấp trước đối với các đệ tử trên bản thể. Đức Phật bảo với quí vị, không có một thứ gì đang phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bất kể cái gì gọi là giả ngã, chân ngã, là phàm phu, là hư không hay chân không, trong đầu óc hay trong cảnh giới của quí vị không có một thứ gì có thể phát tâm. Lúc bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề cho đến các đệ tử bỗng nhiên quán chiếu bên trong, không có một chỗ trụ.
Vẫn còn có một nguyên nhân, mọi người nên hiểu rõ, Kinh Kim Cang là từ trên “Hội Kim Cang bát nhã”, trong khai thị của Phật trích lấy ngôn luận nhỏ nhặt, kết tập mà thành. Do đó, người biên soạn ở đây để cho ngài Tu Bồ Đề đối với đức Phật nêu ra vấn đề trọng tâm, như vậy dễ khiến người đọc hiểu rõ phẩm thứ mười bảy, về sau đức Phật thuyết điểm quan trọng của pháp. Bởi vì nội dung hỏi đáp trước sau của Phật tuy không khác là bao, nhưng điểm quan trọng có chỗ chẳng đồng, chẳng phải đức Phật ở trên pháp hội Kim Cang cùng Tu Bồ Đề hỏi đáp lại như vậy. Cũng có người nói Tu Bồ Đề nêu ra câu hỏi lần nầy là vì chúng sinh, khi Phật diệt độ năm trăm năm sau mà hỏi, nhưng xem phần sau trọng điểm phá tướng của Phật thuyết pháp, cá nhân tôi cho rằng đây là ý của người biên soạn ghi chép như thế.
Bây giờ chúng ta lắng nghe đại ý phẩm thứ mười bảy.
Lúc bấy giờ, Tu Bồ Đề hỏi đức Phật rằng: “Thưa Thế tôn! Người thiện nam, kẻ thiện nữ, phát tâm bồ đề cầu chứng quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, rốt cùng nên an trụ như thế nào? nên hàng phục phiền não, vọng tâm của mình như thế nào?
Đức Phật bảo Tu Bổ Đề: “Người thiện nam, kẻ thiện nữ, phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, phải nên trước tiên phát tâm như vậy. Ta nên độ thoát tất cả chúng sinh ba cõi sáu đường, khiến từ trong bể khổ luân hồi sinh tử giải thoát, tiến vào cảnh giới Như lai niết bàn tịch tĩnh. Cho dù tất cả chúng sinh diệt độ như vậy, trong tâm nên có tri kiến như vậy, thật sự chẳng có một chúng sinh được ta độ thoát.”
Vì sao nói như vậy? Tu Bồ Đề, như Bồ tát có phân biệt các thứ tướng tự ngã, tha nhơn, chúng sinh, thọ giả .v..v… thì không phải là Bồ tát.”
Trả lời trên đây, ngài Tu Bồ Đề nêu câu hỏi và đức Phật trả lời cùng với trong phẩm thứ hai trước đây hầu như giống nhau. Nhưng đáp lời của Phật ở phần sau mới là một phẩm trọng điểm cần phải phá, tức là: Rốt cùng là ai đang phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác? Có thể có một cái tâm chân thật bất biến như vậy không? Cảnh giới như vậy không? Rốt cùng có thứ gì đang phát tâm? Đã là không ngã, không nhơn, thì là ai đang phát tâm? hay là có một thứ “như như bất động, chẳng sinh chẳng diệt, không hình không tướng” đang chờ viên mãn? đang chờ quả vị Phật?
Nguyên văn đức Phật nói như thế nầy: “Phật bảo Tu Bồ Đề, thật không có cái pháp để người ta phát tâm cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.” Trong đó, cái
pháp “Thật không có pháp” ấy, có thể chỉ cảnh giới người và tâm, vật chất trông thấy được hoặc không trông thấy được, hoặc là quí vị cho là bất cứ thứ gì.
Mở đầu trong kinh văn, ngài Tu Bồ Đề nêu ra một vấn đề là người đang phát tâm nên an trụ như thế nào, đây cũng là vấn đề phổ biến cho người mới bắt đầu tu chứng phật pháp chú ý. Tức là: Muốn thành tựu quả vị Phật, nhưng trong lòng phiền não, tạp loạn, không cách nào tâm an trụ khi thực hành Bồ tát đạo, điểm chính cho mọi người chú ý đó là “phương thức tu chứng” như thế nào có thể đạt được an tâm?
Đức Phật nói với quí vị, không cần dính mắc các thứ tướng, vì các tướng hư vọng. Như vậy những đệ tử đang tu hạnh bố thí, nhẫn nhục của Bồ tát, sẽ dần dần đem công đức trở về tánh không. Nhưng chỗ nầy, đức Phật trực tiếp chỉ thẳng lối trở về, khiến cho các đệ tử quay về bản thân. Nếu như quí vị nói quí vị cần phát tâm cầu chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, nếu như vô ngã, rốt cùng là ai đang phát tâm? Còn trực tiếp khẳng định nói với quí vị, không có một chúng sinh tồn tại như vậy. Nếu như có một người phát tâm, thì chúng ta sẽ có tướng ngã, tướng chúng sinh, cũng sẽ chờ đời vị lai thấy được quả vị Phật, tướng Phật, có pháp có thể đắc, có quả có thể thành. Đây là cái nhìn thấu suốt căn bản của chúng ta khi phát tâm cầu quả vị Phật cần phải hiểu rõ, lúc phát tâm tức là phải “vô ngã”. Do đó căn cứ “Trí tuệ bát nhã” trong kinh Hoa Nghiêm mới có thể nói: “Bồ tát mới phát tâm thì thành chánh giác.”
Đọc kinh Kim Cang đến đây, tôi cứ nhớ tới câu chuyện nhị tổ Huệ Khả của thiền tông cầu pháp với tổ Bồ Đề Đạt Ma. Đang lúc nhị tổ chịu đựng đau đớn chém đứt cánh tay, quỳ trong tuyết hướng về tổ sư Đạt Ma nói: “Tâm con không an, xin hỏi về pháp an tâm”. Tổ sư Đạt Ma trừng tròn con mắt, nói lớn: “Ông đem cái tâm đến đây, ta sẽ an cho ông”. Nghĩ lại khi ấy, nhị tổ đã quỳ trong tuyết ba ngày ba đêm, nhị tổ vừa tự mình cắt đứt một cánh tay, chắc chắn trong nháy mắt các tâm bị âm thanh lời nói của tổ Đạt Ma đập tiêu tan mất, thân tâm nhất như trong sạch rõ ràng như đại địa mênh mông trống vắng. Huệ Khả nhẹ giọng nói: “Tìm tâm không thể được.” Âm thanh giọng nói thấp, thân tâm thế giới rõ ràng mênh mông, hư không vắng lặng cùng vang, như âm thanh vang dội trong hang rỗng, nơi không sinh, nơi không diệt. Quấn quanh dính mắc, mà lại không có vết tích. Tổ sư khẳng định nói: “Ta đã vì ông an tâm rồi đó.” Còn lúc nầy, đức Phật cũng hỏi: “Ai đang phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác?” Không chỉ có câu nói “Đem tâm tới đây, ta vì ông mà an cho” của tổ sư Đạt Ma. Những đệ tử trong thoáng chốc nghe lời nói phản quan, cũng rất khó tìm được một “tự ngã”, hay tìm được một “thứ có thể phát tâm”. Trong lịch sử Phật giáo, bởi vì thái tử Chiêu Minh đem kinh Kim Cang cắt chia từng đoạn mà bị trách mắng, đem phẩm nầy đặt tên là “Cứu cánh vô ngã phần”, đặt tên phẩm nầy rất hay. Phần trước trong hỏi đáp, đức Phật và Tu Bồ Đề nói rất nhiều nội dung là không dính mắc ngã tướng, còn đến đây chính là rốt ráo vô ngã.
Tiếp theo, đức Phật đem câu chuyện kiếp trước của ngài, sự việc ở thời Phật Nhiên Đăng tu học để bàn nói. Ngài hỏi Tu Bồ Đề: “Như lai ở nơi Phật Nhiên Đăng, có pháp đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác không? Tức là Như lai từng ở chỗ Phật Nhiên Đăng, có một thứ gì để đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác không? Cái thứ nầy có thể là người, tâm hoặc cảnh giới, hoặc tất cả thứ gì…. mà quí vị cho là nó .v.v…. Tu Bồ Đề thưa: “Khi đức Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng, không có pháp Như lai đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Ở đây, Tu Bồ Đề đã liễu ngộ vô hình vô tướng của Như lai, không có cảnh giới chân không của một niệm nào. Do đó, Ngài lập tức trả lời như vậy.
Đức Phật khẳng định hồi đáp của Tu Bồ Đề, nói: “Đúng như vậy, nếu như ta từng ở nơi Phật Nhiên Đăng, còn có một cái tâm hoặc là có một niệm, một cảnh giới đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì không có an trụ nơi “cảnh giới chân không bản hữu Như lai”. Đức Phật Nhiên Đăng cũng chẳng thọ ký cho ta, Ngài nói: Ngươi ở đời sau nầy có thể thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Chính vì ta an trụ nơi cảnh giới của “các pháp đều không”, như như bất động, siêng năng tu Lục độ, đức Phật Nhiên Đăng mới nói với ta ở một kiếp nào đó chắc chắn thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”
Chỗ nầy đức Phật nói đến vô lượng kiếp xưa, Ngài ở nơi Phật Nhiên Đăng tu hạnh Bồ tát. Phật Nhiên Đăng trông thấy đệ tử đã an trụ trên tri kiến Phật, như là: “Phát nguyện rộng độ chúng sinh, trong tâm thật không chúng sinh có thể độ, không dính mắc tướng ngã, tướng chúng sinh, tu nhẫn nhục, biết rõ thật sự không nhục có thể nhẫn,
hay không khởi niện sân, tu bố thí không dính mắc tướng người thí, kẻ nhận thí, và tất cả của thí, không dính mắc tướng công đức, không dính mắc tướng pháp, không dính mắc tướng quả vị Phật. “Dùng chánh kiến chẳng dứt của Phật trừ sạch hư vọng, chỉ khiến tham sân si mạn nghi, cho đến thói quen dục vọng của mình không nhận ra. Cho nên đức Phật Nhiên Đăng mới vì đệ tử thọ ký ở một kiếp vị lai nào đó viên mãn quả vị Phật. (Ý nghĩa thọ ký tức là bảo đảm thành Phật.)
Đương nhiên, như không có thứ gì có thể phát vô thuợng chánh đẳng chánh giác, cũng không có bất cứ thứ gì để được thọ ký của Phật Nhiên Đăng. Vạn pháp vô ngã, đấy tức là chân nghĩa Như lai. Do đó đức Phật nói tiếp: “Như lai tức là các pháp như nghĩa” hết thảy tất cả muôn pháp là như vậy.
Bởi vì các đệ tử đang ở trước mặt nghe được hết thảy đạo lý, tức là: Các tướng hư vọng không thật, không nên dính mắc tất cả tướng, đều là Phật an trụ “cảnh của Như lai” đang nói đến. Nhưng cái “cảnh của Như lai” nầy, những đệ tử khi chưa đạt đến, chỉ là một ảo tướng trong đầu, có lẽ là một thứ “hư không”, có lẽ là một cái phủ định, buông bỏ tất cả cảnh giới, trạng thái dư thừa sau cùng, nhưng ở đây đều không phải là “cảnh giới chân không Như lai”. Do đó, trong kinh văn thấy đức Phật liên tục chặt đứt, vì các đệ tử khai thị cảnh giới Như lai. Chỗ nầy đức Phật tổng kết nói: “Như lai là các pháp như nghĩa.” Đấy là nói cảnh của Như lai là bản lai của vạn pháp, bản lai tức là như vậy, vốn đều là không tự tánh. Khi chúng ta phá bỏ phân biệt, chấp trước, xuất hiện ra một trạng thái ấy tức là Như lai.
Phần sau đức Phật khai thị tiếp theo: “Nếu như có người nói, Như lai đắc quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, thật sự trong đó gồm không có người phát tâm, cũng không có người được quả vị. Chính vì nguyên nhân như vậy, đức Phật chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.”
Nói đến đây, chúng ta thật sự muốn mỉm cười. Không có người phát tâm, không quả vị có thể được, trong khi chúng ta hết lòng cầu, hết lòng với chỗ đắc, liền có thể thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác. Còn ở thế giới nầy, bất cứ thứ gì học tập trong pháp hữu vi, chúng ta học bất cứ kỹ năng, lý luận, học vấn, đều là có người đang học tập, rốt sau chung quy có một người được xem là thành tựu cao nhất. Nhưng học tập Phật pháp, ngược lại là thẳng đến triệt để biết vạn pháp hư vọng, tâm sở cầu, tâm sở đắc không sinh khởi nữa, tức thành tựu tối cao, trí tuệ, giác ngộ rất viên mãn, còn ở đây thì trí tuệ giác ngộ vô tướng.
Chúng ta tiếp tục xem nguyên văn, đức Phật nói tiếp: “Sự việc đức Phật thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác, không thật không hư.” Vì sao đức Phật nói như vậy? Bởi vì khi một người thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác, lìa hết thảy tướng, không ngã, không nhơn, không chúng sinh, không thọ giả, cho nên nói không thật. Sau khi lìa hết thảy tướng, tâm sở cầu, sở đắc tịch diệt, lúc bấy giờ mới biết vạn
pháp vốn viên mãn, Nhất thiết trí vốn sẳn có, công đức vốn sẳn có, những động tác nói năng hay im lặng đều đầy đủ diệu dụng hằng sa, vì vậy nói rằng không hư dối.
Do đó Như lai nói: “Tất cả pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề, nói tất cả pháp tức chẳng phải tất cả pháp, đó gọi là tất cả pháp.”
Đọc đến đây, nghe đức Phật nói “Tất cả pháp đều là Phật pháp”. Nghĩ lại Không chỉ tiếc nhiều năm tu hành gặp được nhiều bạn bè đồng tu, chưa có ai thật sự lĩnh ngộ lý tính không của Phật nói, trích dẫn cắt xén nhớ kỹ câu nói nầy, cũng bị sai lầm hết sức trong câu nói nầy. Gặp được một vị đồng tu, ăn thịt, uống rượu, không cần giới hạn, trong cuộc sống phong lưu đa tình, phóng lãng hình hài, không câu tiểu tiết, không tu thiền định, không học pháp môn, khi hỏi họ sống như vậy có thể thành Phật không? Họ đáp: Trong kinh Kim Cang đức Phật nói rồi, “Tất cả pháp đều là Phật pháp”.
Đúng vậy, tất cả pháp đều là Phật pháp, ở trong cảnh giới Như lai đều thanh tịnh không nhiễm. Nhưng, nếu như quí vị vẫn chưa thật sự chứng nhập tất cả pháp hư vọng, còn bị cảnh chuyển, còn bị mê muội tướng, vẫn còn luôn nhớ cảm thọ thân tâm của chính mình, vẫn còn bị lục dục thất tình trong thế giới nầy dính chặt, tâm sở cầu tâm sở đắc còn rất nặng, còn có sợ hãi, khát vọng, được mất, vẫn chưa có tâm bình đẳng, thế thì tất cả pháp ở thế giới nầy sẽ dẫn dắt quí vị đi theo hướng luân hồi, mà không phải dẫn đường quí vị đi đến giải thoát. Phật pháp là độ người ta ra khỏi sinh tử luân hồi, nếu như quí vị thật sự không thể liễu ngộ lý tánh không của Phật, cũng sẽ không
thật sự buông bỏ chấp ngã, thế thì vạn pháp đối với quí vị cũng không một pháp là Phật pháp, mà đều là nhân tạo thành nghiệp luân hồi.
Trong lịch sử Phật giáo, Nhị tổ của thiền tông tuổi già phiêu bạt rong chơi lầu xanh, khi đó tổ sư đã chứng nhập tánh không, ngài có thể ở trong tất cả pháp thấy được tánh không. Tế Công Phật sống ôm giấu thịt chó, nói: “Rượu thịt đi ngang đường ruột, trong lòng lưu giữ Phật tổ.” Nhưng ngài nói: “Người học theo ta, người phỉ báng ta, đều xuống địa ngục.” Vì người chưa chứng nhập tánh không chưa có đủ tư cách học Ngài. Hoặc là hiện tại nam nữ đi hai lối tương đối chịu tranh luận, không có mấy người thật sự được lợi ích trong pháp môn nầy, là bởi vì người tu pháp hai bên đều chưa liễu ngộ lý tánh không, dùng tâm dính mắc tướng, mang theo tình dục để tu hành, cho nên không có cách nào trong pháp môn nầy thấy được tánh.
Do đó, khi chúng ta nghĩ đến câu nói trong kinh Kim Cang, đừng quên phía sau câu nói “Cái gọi là tất cả pháp tức chẳng phải tất cả pháp, đó là tất cả pháp”, quí vị cần phải liễu ngộ triệt để vạn pháp đều không, không tự tánh, mà hay luôn luôn an trụ nơi đó, mới có thể ở trong tất cả pháp thấy Như lai. Lúc bấy giờ, mới có tư cách nói ra câu “Tất cả pháp đều là Phật pháp”.
Tiếp theo, đức Phật lại dùng thân người to lớn để ví dụ. Lần thứ nhất đức Phật nói ví dụ thân người to lớn ở phẩm thứ mười, Phật hỏi Tu Bồ Đề: “Thí như có người thân như núi tu di, ông nghĩ thế nào, là cái thân đó to không? Tu Bồ Đề thưa: “Bạch thế tôn! rất to. Tại vì sao, Phật nói chẳng phải thân tức gọi là thân lớn.” Trong phẩm nầy, đức Phật muốn phá chấp trước thân tướng công đức với các đệ tử. Cho nên lần nầy đức Phật lại nhắc đến cái thân to lớn, nguyên văn là: “Tu Bồ ‘Đề, thí như thân người to lớn.” Tu Bồ Đề lập tức nói: “Thưa Thế tôn, Như lai nói thân người to lớn, tức chẳng phải thân to lớn, đó gọi là thân to lớn”.
Đức Phật nói cái thân to lớn giống như núi chúa tu di, là chỉ cái tướng công đức trang nghiêm của đại Bồ tát đang tu hành, cái thân nầy ở trong pháp giới có thể to lớn như núi chúa tu di (Núi tu di trong Phật giáo cho rằng nó là ngọn núi lớn nhất cao nhất trong vũ trụ, và còn xem nó là trung tâm của vũ trụ.) Nhưng cho dù thân tướng to lớn trang nghiêm công đức như thế nào, thì trong nó không có một tự ngã chân thật, nên gọi chẳng phải thân to lớn, chỉ là đặt một cái tên, để gọi là cái thân to lớn thôi. Ở đây, đức Phật nói đến “tướng thân to lớn” là bảo với các đệ tử, trong thân tướng công đức giống như ngọn núi chúa tu di, cũng không có ngã, không có tâm, chỉ là một cái giả danh. Bởi vì phần trước đức Phật vừa nói đến tất cả pháp đều là Phật pháp, đều không tự tánh, đều vô ngã, cho nên đem cái tướng công đức nầy để tiếp tục trình bày quan điểm nầy. Vì có các đệ tử đối với thân tướng có kính sợ từ công đức kiến lập nên, dễ dàng dính mắc.
Đức Phật nói tiếp: “Do đó, Bồ tát cũng là như vậy. Nếu Bồ tát cho rằng có một cái ngã có thể diệt độ vô lượng vô biên chúng sinh, thì không thể gọi là Bồ tát chân thật. Tại vì sao, Tu Bồ Đề, thật sự không có một người hoặc tâm, hay cảnh giới có thể gọi là Bồ tát. Cho nên Phật nói tất cả pháp vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả.” Nghe đến đây, chúng ta phải hiểu được chúng ta đang phát tâm, đang hành đạo Bồ tát, nhưng trong đó không có một thứ gì được gọi là Bồ tát. Thân, tâm, hành vi đều là không, đây là cảnh giới đại Bồ tát, đây tức là cảnh của Như lai.
Do đó, đức Phật nói tiếp, nguyên văn là: Cho nên Phật nói, tất cả pháp vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả.” Câu nầy vẫn là hô ứng phần trước nói “Tất cả pháp đều là Phật pháp”, cũng có thể phần trước và đoạn văn sau lý giải thế nầy: Tất cả pháp vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả, nên tất cả pháp đều là Phật pháp.”
Đức Phật nói tiếp: “Nếu như có Bồ tát cho rằng, tôi đang trang nghiêm cõi Phật, cũng không thể gọi là Bồ tát chơn chánh. Vì sao nói như thế? Như lai nói, trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, đó là trang nghiêm.”
Đoạn kinh trên cũng xuất hiện trong phẩm thứ mười, Nguyên văn là: “Tu Bồ Đề, Ý ông nghĩ sao, Bồ tát có trang nghiêm cõi Phật không?”. Thưa Thế tôn, Không. Tại vì sao, trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, đó gọi là trang nghiêm.”
Mọi người so sánh hai đoạn văn trên, liền phát hiện trọng điểm Phật phá tướng không giống nhau. Trong phẩm thứ mười, đức Phật muốn phá chấp trước hành vi chúng sinh là “trang nghiêm cõi Phật.” Còn ở phẩm thứ mười bảy, Phật phá “tự ngã” của Bồ tát, trong nhận biết của Bồ tát, không có một cái “ngã” đang trang nghiêm cõi Phật. Trong khi Bồ tát đang hành đạo Bồ tát, luôn nhớ lợi ích cho người khác, bởi vì thật không ngã, không nhơn, không chúng sinh, do đó luôn nhớ lợi ích cho người cũng là luôn nhớ lợi ích cho mình, hết thảy công đức hồi hướng tự mình, tức trang nghiêm cõi Phật tự tâm, có thể khiến tự mình càng ngày càng vô ngã, càng ngày càng trở thành tất cả pháp giới vạn pháp trang nghiêm, đây cũng là trang nghiêm cõi Phật. Nhưng chánh nhân là vạn pháp vô ngã, nên trang nghiêm cõi Phật, sự việc nầy cũng là giả danh. Nếu như Bồ tát không thể an trụ tri kiến lợi tha như vậy, thế là chỉ làm nghiệp lành nhơn gian, không thể gọi là hạnh Bồ tát thật sự.
Do đó, sau cùng phẩm kinh nầy đức Phật nói: “Nếu như một vị Bồ tát có thể thông đạt pháp vô ngã, Như lai nói, vị ấy mới có thể thật sự đáng gọi là một vị Bồ tát.”
Một người từ khi sinh ra đến nay, trong nhận thức của họ liền xác lập hai cảnh giới: Một là tự ngã; còn một là vạn pháp tương đối tự ngã kiến lập nên, cũng bao gồm người khác, vô lượng vô biên, các loài các đường chúng sinh hữu tình, cho đến thế giới tự nhiên cỏ cây đất đá .v.v… chúng sinh vô tình có linh giác. Còn con người cả đời chấp trước, phân biệt, thủ xả, được mất, cũng chẳng qua là những thứ nầy thôi. Trong trí tuệ của Phật dạy bảo chúng ta: Mỗi một con người, sự vật đều do các duyên tập hợp
mà thành. Trong đó không có một thứ gì chẳng thay đổi, tự tánh chân thật tồn tại, đều chỉ là một giả danh. Quí vị không cần chấp trước tất cả sinh diệt được mất, bởi vì sinh diệt được mất chỉ là huyển hóa, tức là ở đây gọi là “Pháp vô ngã”, trong Phật học chia thành “Nhơn vô ngã và pháp vô ngã”.
Thí như nói A la hán do lìa khổ được vui, chỉ chứng được nhơn vô ngã, trụ trong cảnh tịch diệt, lấy tịch diệt làm vui, trốn tránh luân hồi, chưa chứng đến vạn pháp đều không. Thí như muốn lìa khổ được vui, chưa chứng nhập khổ cũng vốn không; muốn lìa tình bỏ dục, chưa chứng nhập tình dục cũng không; tức chưa chứng đắc pháp vô ngã, nên chưa ra khỏi luân hồi, tu chứng chẳng rốt ráo viên mãn. Đại Bồ tát lấy vô ngã chánh kiến chứng ba cõi sáu đường vạn pháp đều không tự tánh, luân hồi cũng thành là giả tướng, có thể đời đời kiếp kiếp ra vào huyễn cảnh lục đạo luân hồi, cứu độ nhưng ở trong bể khổ không pháp chúng sinh giải thoát, gọi là “du hý tất cánh không” (“Dạo chơi cảnh rốt ráo Chân không”).
Đức Phật nói, người thông đạt đạo lý vô ngã nầy, mới có thể gọi người ấy là Bồ tát chân chánh.