Phần I – Hành trình tu đạo của tôi [Tập 13]

Sau khi hành hương viên mãn Tứ đại Phật giáo thánh địa, tôi lại có hơn hai năm ở tại gia tu hành, đồng thời hành y cứu người. Thỉnh thoảng, tôi lên “Ngũ Đài Sơn” tạm thời nhập thất trong những kỳ ngắn ngày; khi nhập thất, có lúc tuyệt thực, có lúc mỗi ngày chỉ thọ một bữa. Tất cả thời gian đều dùng để tọa thiền hoặc đọc kinh sách. Kỳ thực cũng chưa thể gọi là “nhập thất” đúng nghĩa, chỉ là tạm thời lánh xa hồng trần và những nhiễu động của thất tình lục dục, trong vài ngày an tịnh, chuyên tâm tu chứng.

Nhớ lại một năm nọ vào mùa đông, tôi trụ tại một tiểu lữ quán trên “Ngũ Đài Sơn”. Thường ngày, tôi đứng nơi ban công tầng hai, lặng ngắm cảnh tuyết rơi. Mỗi buổi sớm, đều thấy một vị tăng y phục rách rưới, ba bước một lạy, hướng về “Đại La Đỉnh” mà tiến. Thuở ấy, tôi đối với những người chấp trước nơi “khổ hạnh” vẫn còn chút thiên kiến, cho rằng đó là “tâm ngoại cầu pháp”. Một hôm, sư phụ đột nhiên bảo tôi cũng phải từng bước một lạy mà lên “Đại La Đỉnh”. Trong lòng tôi liền hiểu, ắt là do mình đối với vị tăng kia khởi “phân biệt tâm”, đã bị sư phụ hay biết, nên muốn răn nhắc. “Đại La Đỉnh” có một nghìn không trăm tám mươi bậc thềm; đêm hôm trước lại vừa có tuyết rơi, trên các bậc đá phủ dày một lớp tuyết trắng.

Tôi mặc áo bông, quần bông, đeo thêm đôi găng tay rồi bắt đầu tiến lên. Sư phụ dạy: “Chớ khởi một niệm nào, buông lỏng thân tâm, trong miệng thầm niệm ‘Nam mô Đại Trí Văn Thù Bồ Tát’.” Tôi liền y giáo phụng hành. Ngày thường tôi đã nhiều lần lên “Đại La Đỉnh”, đi đến nửa đường thường đã thở dốc, thân tâm mệt nhọc. Nhưng lần này, càng tiến lên lại càng cảm thấy nhẹ nhàng thư thái, tựa như đang ở chốn bằng phẳng mà đảnh lễ vài lạy, an nhiên không chút khó nhọc. Khi lên đến lưng chừng núi, có mấy du khách đi ngang qua bên cạnh tôi, chỉ nghe một người nói: “Tội thật, áo bông cũng ướt sũng rồi.” Người khác lại bảo: “Không biết khổ thế này để làm gì!” Nghe vậy, trong lòng tôi chợt muốn đứng dậy mà nói với họ rằng: “Không hề khổ, tôi đang rất an lạc.”

Tôi cảm nhận toàn thân năng lực như băng hà tan chảy mà dần dần hồi phục, khắp thân ấm áp nhu hòa, thân tâm thư thái, nét mặt hoan hỷ, mày giãn mắt cười; khi lên đến đỉnh, tôi nhận ra hơi thở trở nên miên trường, tựa như vừa nhập một lần “thiền định”, lại thấy nơi “nhãn căn”, “khẩu căn”, “nhĩ căn” của chính mình, từng đóa sen lần lượt nở ra.

Từ đó về sau, mỗi khi tôi thấy những người tu khổ hạnh, trong lòng liền sinh khởi sự tán thán, hoan hỷ tùy hỷ với họ. Những cảm nhận giác ngộ của họ có lẽ chúng ta khó lòng thấu hiểu; bất luận pháp môn nào, hễ phù hợp với căn cơ của chính mình, thì đó chính là pháp môn tốt nhất.

Sau đó, tôi lại cùng em trai và một người bạn lên Tây Tạng. Tại cung điện Potala, tôi được diện kiến đại sư Tông Khách Ba, ngài vì tôi mà khai thị một vài pháp môn Mật tông. Khi đi ngang qua một gian phòng truyền mật của Mật giáo, tôi mỉm cười hỏi đại sư: “Thật có mật pháp để truyền sao?” Đại sư đáp: “Quả thật có mật pháp. Nếu không tin, con có thể vào đây, ta sẽ truyền cho con.” Tôi theo ngài bước vào trong phòng, thấy ngài an tọa trên một pháp tòa đối diện với tôi. Tôi đứng trước mặt ngài, bỗng nhiên ngài trở nên vô cùng trang nghiêm; trong khoảnh khắc, tôi cũng bị đạo tràng ấy cảm nhiễm, lòng dấy khởi sự cung kính sâu xa. Chỉ thấy từ nơi miệng ngài, từng lời chậm rãi thốt ra: “vô tham — vô sân — vô si — vô mạn — vô nghi”. Mỗi khi ngài thốt ra hai chữ, từ đầu đến chân tôi liền như được một dòng bạch quang như thác đổ gột rửa một lần. Khi ngài xướng xong, thân tâm tôi sáng trong như tuyết, tâm thần tịch tĩnh an nhiên, toàn thể thân tâm như được thanh tịnh hóa một cách triệt để…

Một lần trong lúc thiền định, tôi đi vào sâu trong dãy núi Hi Mã Lạp Sơn, tại đó thấy hai trụ băng hình nón, bề mặt trơn nhẵn, bên trong rỗng và phía trên có một cửa mở; tôi biết bên trong có người nên liền từ cửa trên đi vào bái phỏng. Quả nhiên bên trong có một vị hành giả đang an tọa, thấy tôi ông rất hoan hỷ, hòa nhã hỏi han vài điều, rồi cho biết trong trụ băng bên kia là anh của ông, cả hai đều tu pháp “Đại Thủ Ấn” của Mật tông đã hơn ba trăm năm; nhiệt độ trong đó lạnh đến mức hơi thở có thể kết thành băng, nhưng câu chuyện giữa chúng tôi lại rất tương hợp, tự nhiên. Khi ấy tôi đang chuyển hóa “tâm luân”, nơi ngực đau nhức vô cùng, ông nhìn tôi rồi nói hãy cẩn thận vì mạch độc có thể công tâm, năng lượng của tôi chưa đủ, rồi bảo tôi duỗi tay ra, dùng lòng bàn tay áp vào tay tôi; ngay lúc đó, từ trong thân ông như có một luồng điện mạnh mẽ trong khoảnh khắc lan khắp toàn thân tôi.

Việc này kéo dài chừng nửa giờ, ông bỗng thu tay lại, hơi thở khẽ khàng nói với tôi: “Vừa rồi ta đã đem toàn bộ năng lượng trong thân truyền vào mạch đạo của anh, mong anh sớm ngày viên mãn, quảng hoằng Phật pháp.” Tôi vô cùng kinh ngạc, nhất thời không biết nói gì. Ông lại mỉm cười nói: “Không sao, vốn dĩ mấy ngày tới ta cũng chuẩn bị viên tịch, nên những năng lượng ấy đối với ta cũng không còn mấy tác dụng; ta đi đây, phiền anh sang bên kia báo cho anh trai ta một tiếng.” Trong chớp mắt, tôi đã ở trong trụ băng bên kia, liền nói với người bên trong: “Em trai ông sắp viên tịch rồi!” Người ấy vừa nghe liền bay vọt lên không, biến mất ngoài trụ; một lúc sau ông trở lại, nét mặt thoáng mang vẻ đau buồn sâu lắng, dùng ánh mắt có phần trách móc nhìn tôi, miệng lẩm bẩm: “Trước khi đi cũng không chào một tiếng.” Tôi buồn bã đem toàn bộ sự tình vừa rồi kể lại. Ông nghe xong trầm tư hồi lâu rồi nói: “Anh đừng buồn, việc này không phải lỗi của anh, huynh đệ chúng tôi với anh có duyên, chúng tôi đã ở nhân gian hơn ba trăm năm, cũng đến lúc phải đi rồi; có thể trước khi rời đi mà giúp ích đôi chút cho việc tu hành của anh, chúng tôi rất hoan hỷ.” Nói xong, ông bỗng nhảy vọt lên, treo ngược giữa không trung, dùng đỉnh đầu áp vào đầu tôi; tôi chợt hiểu ý ông, vội định ngăn lại nhưng đã không kịp, đầu tôi như dính chặt với đầu ông, hoàn toàn không thể chống cự. Năng lượng của ông như sóng dâng cuồn cuộn, từ đỉnh đầu ông ồ ạt trút xuống; chỉ trong vài phút, ông lộn người rời khỏi đầu tôi, rồi kết “già phu tọa” mà “viên tịch”. Tôi lặng lẽ ngồi bên cạnh ông, tâm niệm dâng trào, mãi đến khi dần bình tĩnh lại mới thầm niệm đến sư phụ; sư phụ hiện ra bên ngoài trụ băng, dường như đã biết hết mọi việc vừa xảy ra, rồi bảo tôi hướng về trụ băng mà đảnh lễ mấy lần… Ở dãy Hi Mã Lạp Sơn còn có vài lần kỳ ngộ khác, mỗi khi nhớ lại đến nay vẫn khiến tôi xúc động không thôi, đồng thời cũng khiến tôi thường tự thấy rằng sự cống hiến của mình cho người khác vẫn còn quá ít; tôi đã ở vùng đất Tây Tạng hơn hai mươi ngày.

Viết một bình luận