II. Hành trình tu đạo
Kê Túc Sơn và phần kết
Vào tháng Ba năm nay, tôi đã hoàn tất chuyến hành hương đến đạo tràng lớn cuối cùng của Phật giáo Trung Hoa — núi Kê Túc ở Vân Nam. Nhóm chúng tôi gồm năm người, trước tiên lưu trú tại một ngôi chùa nhỏ dưới chân núi là chùa Phóng Quang, ngày hôm sau lên đường đến Hoa Thủ Môn. Đường đi gập ghềnh, khi đến một ngôi chùa nhỏ thì mọi người đều mệt lả, thở dốc không ngừng. Tôi thấy trên cổng chùa đề bốn chữ “hữu cầu tất ứng”, trong lòng nghĩ chắc bên trong thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng khi bước vào lại thấy tượng thờ không giống hình tướng Quán Âm thường thấy. Tôi tự nhủ, bất luận là vị Bồ Tát nào, mình cũng thành tâm cầu nguyện. Đây là lần đầu tiên, sau khi đã đi qua vô số tự viện, tôi phát khởi tâm cầu nguyện một cách chân thành, cung kính đến vậy, trong lòng không một tạp niệm, chỉ nguyện cầu chư Phật gia hộ cho cha mẹ thân tâm an lành, và nguyện đem toàn bộ công đức tu hành của mình hồi hướng cho song thân. Bỗng nhiên, pho tượng trước mặt tôi phóng ra ánh kim quang rực rỡ, giữa hư không hiện ra pháp tướng trang nghiêm của Tôn giả Ca Diếp, Ngài nói: “Ta sẽ mãn nguyện cho con.” Rồi thấy cha mẹ tôi cũng hiện ra giữa không trung. Tôn giả dùng nước “bát công đức” dưới chân núi rưới lên đỉnh đầu họ, rồi hình ảnh dần tan biến. Lúc ấy tôi chợt tỉnh ngộ rằng mình đã đến Hoa Thủ Môn. Quả nhiên, phía sau ngôi chùa nhỏ chính là hang núi nơi Tôn giả Ca Diếp lưu thân trụ thế nhập định. Tôi lại ngồi yên tĩnh bên ngoài cửa hang, khi vào định thì thấy trước cửa hang có một vị hộ pháp chống đại đao, trên vai trái còn đậu một con chim trắng. Con chim ấy là sứ giả của Tôn giả Ca Diếp, thường dẫn dắt những chúng sinh hữu duyên được diện kiến Ngài. Cửa hang mở ra, vị hộ pháp nơi cửa mời tôi bước vào. Bên trong hang rất rộng, một luồng ánh sáng từ phía trên xiên xuống, tôi đi theo hướng ánh sáng ấy chừng hơn mười bước thì thấy Tôn giả Ca Diếp mặc áo trường bào màu xám, tay cầm chuỗi niệm châu, thân hình cao lớn, đứng đó một cách tự tại, an nhiên. Thấy tôi vừa đi vừa nhìn quanh, Ngài chỉ bình thản nói: “Đừng nhìn nữa, trong hang của ta không có gì đâu, ra ngoài rồi đi lên phía trên sẽ có trai phạn rất ngon.” Tôi cũng mỉm cười, liền quay người rời đi.
Ra khỏi hang, tôi mới phát hiện mình thật sự đói cồn cào, những người đi cùng cũng đói lả. Mọi người ghé vào một quán chay, ăn một bữa no nê rồi chuẩn bị trở về. Khi đi qua Hoa Thủ Môn, tôi chợt thấy nên chào từ biệt Tôn giả Ca Diếp. Tôi nhìn thấy Ngài từ trong hang bước ra, dường như sắp đi xa, liền đến cáo biệt, nhưng Ngài chỉ khẽ đưa tay, ý bảo cứ đi đi. Trong lòng tôi bỗng dâng lên chút tủi ý, nghĩ rằng chúng tôi từ xa đến đảnh lễ Ngài, chí ít Ngài cũng nên nói vài lời khai thị. Tôn giả dường như đã hiểu được tâm niệm của tôi, liền nói: “Ngươi khi nào từng đến, mà lại có lúc rời đi?” Tôi đứng lặng nhìn bóng Ngài dần khuất xa, trong lòng không khỏi cảm khái, rồi tự cười thói quen và sự chấp trước của chính mình. Chúng ta thường không thể an trú trong sự bình thường, luôn mang tâm phan duyên mà mong cầu điều gì đó, không hiểu rằng chính sự bình thường mới là chân nghĩa của đạo — vốn không có đến, cũng không có đi. Vậy ta còn lưu luyến, vướng mắc điều gì nữa?
Ở nơi đây, tôi chợt nhớ lại thuở ban đầu khi mới đến Quảng Châu, việc trước tiên là đến “Nam Hoa Tự” lễ bái chân thân của “Lục Tổ Huệ Năng”; tôi cung kính quỳ trước chân thân Lục Tổ, dập đầu vài lạy, rồi lặng lẽ chăm chú nhìn dung nghi của Ngài, muốn biết dung mạo bậc Đại Sư ra sao; ngay khi ấy, trong khoảnh khắc nhiệm mầu, ba tôn nhục thân trong đại điện bỗng hóa hiện thành ba vị Bồ Tát, các Ngài nhìn tôi rồi cùng nhau mỉm cười, tôi bèn chắp tay thưa rằng: “Kính chào ba vị Bồ Tát! Bạch Lục Tổ Đại Sư, con xin thỉnh vấn: pháp yếu của Thiền tông do ‘Đạt Ma Tổ Sư’ truyền lại, rốt ráo là gì?”; Lục Tổ khẽ mỉm cười, chợt thấy từ nơi tâm Ngài phóng ra một luồng quang minh trắng nhiệm mầu, trong chớp mắt bao trùm khắp cả đại điện, trong ánh quang ấy vô số quang tử lấp lánh lưu chuyển, mà trong mỗi quang tử lại hiện ra vô lượng chữ “tâm” lớn nhỏ khác nhau; tôi bị một trường lực thù thắng bao phủ, thân tâm dường như dần dần tan biến, không còn là “tôi” như trước nữa mà hóa thành một sự tồn tại vượt ngoài hết thảy đối đãi, lại cảm nhận chính mình theo dòng quang tử mà lưu chuyển, trở thành một niềm an lạc vi diệu đang vận hành, quang và tâm xoay chuyển không ngừng, dung thông vô ngại. Tôi được thanh tịnh hóa và tẩy rửa; chẳng biết đã trải qua bao lâu, tôi từ trong trạng thái ấy dần dần thoát ra, đại điện cũng đã trở lại vẻ tịch nhiên như trước; chân thân của “Lục Tổ Huệ Năng” lại an nhiên đoan tọa nơi ấy, không còn thấy Bồ Tát, cũng chẳng còn những chữ “tâm”; tôi đứng dậy, ngay khoảnh khắc bước ra khỏi đại điện, bỗng khởi lên một niệm luyến lưu, muốn quay đầu nhìn lại chân thân Lục Tổ lần nữa, đồng thời đối với cảnh giới vừa rồi cũng sinh chút nghi hoặc vi tế; đúng lúc tôi ngoảnh đầu nhìn lại, lại thấy Lục Tổ đứng phía sau chính thân tượng của Ngài, một cước đá thân ấy rơi khỏi án thờ, rồi đưa tay xé bỏ dải màn đỏ trên đầu; trong chớp mắt, tôi cảm nhận cả đại điện chấn động, từ mái điện bụi trần rơi xuống lả tả, trong tâm tôi thoáng sinh một ý niệm: nếu còn dừng lại thêm một khắc, e rằng Lục Tổ sẽ phá tan cả đại điện; tôi liền quay thân mà đi, rốt cuộc rời đi trong trạng thái vô sở hệ lụy, không còn vướng mắc.
Đến đây, hành trình tu đạo của tôi tạm khép lại một đoạn; tôi không ghi chép những điều mình cảm ngộ hay đã chứng đắc được gì, chỉ thành thực thuật lại những điều mắt thấy tai nghe cùng một vài trải nghiệm thân tâm trong suốt quá trình ấy; mỗi người do căn cơ sai biệt, nên cảnh giới tu hành và sự thể nghiệm cũng chẳng đồng, mà mỗi cá nhân đều là duy nhất, không có pháp môn nào là cao hơn, cũng không có ai tu hành mà “đặc sắc” hơn ai; hơn mười năm tu học, điều tôi dần dần hiểu ra chỉ là ý nghĩa chân thật của sự bình thường, từ đó tâm cuồng vọng lặng dứt, càng sống và làm việc, học tập một cách thiết thực vững chãi hơn, trọn vẹn an trú trong hiện tại, toàn thân tâm thọ hưởng từng sát-na của sinh mệnh; đối với tôi, mở mắt hay nhắm mắt đều là cảnh giới, cái “ngã” cần tu chứng kia, cái “quả” được chứng đắc nọ, cho đến “tứ thiền bát định” cũng chỉ là những cảnh giới hư vọng mà thôi; nếu tâm không còn phân biệt, tùy duyên tự tại, khi ấy mới thật sự liễu tri được chân nghĩa của sự “thường hằng”; mong rằng mỗi vị đồng tu trên con đường tu chứng Phật pháp chớ vội khẳng định hay phủ định điều gì, cũng đừng dễ dàng lấy sự chứng ngộ của người khác làm kiến giải của chính mình; hãy chân thật lựa chọn một pháp môn, thân tâm thâm nhập mà thực chứng, nhất định phải tự mình nếm trải “pháp vị”, khi ấy mới có thể đạt được sự thọ dụng chân thật. (Hết)