Hiện nay có một số cư sĩ tại gia phát tâm tín ngưỡng Phật pháp, đôi khi đến chùa dâng hương lễ Phật, học trì vài câu Phật hiệu hay chân ngôn, hoặc đến chùa thọ Tam Quy Ngũ Giới. Tam Quy là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng; Ngũ Giới là giới sát sanh, giới đạo, giới dâm, giới vọng, giới tửu. Có tự viện khi thọ giới sẽ giảng giải giới điều, có nơi không giảng, song đều trao chứng chỉ quy y, từ đó người ấy chính thức trở thành Phật tử tại gia, và thường tự xưng mình đã quy y nơi vị pháp sư nào, tại ngôi tự viện nào. Quy y nghĩa là “y chỉ”, tức nương tựa nơi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, để cầu đạt giải thoát.
Lại có những người chưa chính thức quy y, chỉ khi trông thấy tôn tượng chư Phật, nghe tiếng phạm bối mà tâm sanh hoan hỷ, liền đến dâng hương, lễ bái. Nếu gặp bậc thiện tri thức giảng nói Phật pháp, họ cũng hoan hỷ lắng nghe. Những hạng người như thế đều được gọi chung là tín đồ Phật giáo. Do sự hiểu biết Phật pháp hãy còn cạn hẹp, nên lòng tin phần nhiều chỉ dừng ở chỗ cầu nguyện chư Phật, Bồ-tát gia hộ cho bản thân và quyến thuộc được bình an, mạnh khỏe, an lạc, sự nghiệp hưng thịnh, tài lộc tăng trưởng. Đôi khi họ cũng phát tâm trai giới, làm công quả tại tự viện, cúng dường xây dựng chùa, hành bố thí, hành các việc từ thiện….
Học tập Phật pháp tiến thêm một bước, không chỉ dừng ở niềm tin nơi Phật, mà còn cần rõ biết lời Phật đã dạy, chẳng thỏa mãn với việc chỉ thắp hương lễ bái, nên khởi tâm đọc tụng kinh điển Phật giáo. Đại thể tin vào nhân quả, luân hồi, nghiệp báo; có người giữ trai giới, đôi lúc tĩnh tọa điều tâm. Nhưng chỉ tin lời Phật nói, ít đòi hỏi nơi tự tâm. Các pháp niệm như chư Phật, Bồ-tát, nhân quả, luân hồi, nghiệp báo tuy tin là có thật, nhưng chẳng thấy đáng sợ, thường cho rằng mình đã tin Phật thì sẽ không đọa địa ngục. Dù có khi tạo ra một số việc bất thiện, liền quyên góp tiền của cúng dường tự viện, đạo tràng, tưởng cậy nơi lòng từ bi của chư Phật, Bồ-tát, ắt sẽ che chở cho mình, khiến ác báo nặng hóa nhẹ, báo nhẹ tiêu tan. Đây chính là hạng người tin Phật bậc thứ hai. Nhiều kẻ lại phóng khoáng đến mức chẳng màng hình thức, cho rằng “Trong tâm” có Phật là đủ. Kỳ thực, trong tâm họ cũng chỉ thoáng chốc mới có Phật, Bồ-tát; hễ gặp lợi ích riêng hay thất tình lục dục khởi lên, liền đem Phật, Bồ-tát từ trong tâm mà lưu đày ra ngoài.
Hạng thứ ba chính là tu chứng Phật pháp. niềm tin nơi Phật đã tiến thêm một bước. khi đã hiểu Phật pháp sâu hơn, sẽ không còn thấy thỏa mãn với việc chỉ biết Phật nói gì, mà phải như chư Phật, “lấy thân chứng đạo, tự thân thành Phật”, dứt hẳn vòng luân hồi, được giải thoát rốt ráo. Đó chính là tu chứng Phật pháp, tức là tự mình phải làm Phật. Nhưng con đường thành Phật là một tiến trình hàng phục tự thân; trên lộ trình ấy, cần từng khoảnh khắc quán chiếu, xem tập khí cùng dục vọng của mình, tham, sân, si, mạn, nghi đã được giảm bớt được bao nhiêu. Cần đứng trên lập trường của Bồ-tát, lấy chánh kiến Như Lai mà quán xét, phản tỉnh từng niệm khởi tâm và mọi hành xử ở đời. Lại phải rộng tu công đức, rộng kết thiện duyên, dừng ác, làm lành. Nếu chẳng vậy, khi ác báo hình thành, việc tu chứng sẽ vô cùng khó khăn, khiến hành giả thân tâm tổn hại, chẳng còn thời gian, tinh lực, hay nhân duyên để tu chứng. Hoặc khiến tâm sanh nghịch duyên, khởi niệm phản cảm, chán ghét đối với Phật pháp cùng chư thiện tri thức có khả năng cứu độ mình, từ đó dần xa lìa các ngài. Lại ưa thân cận cùng hạng người ưa bày trò huyền hoặc, hoặc kẻ đồng hoại với mình; ngoài mặt thì tỏ ra trì giới nghiêm cẩn, mà trong tâm tà niệm dục vọng bừng cháy, tham cầu danh lợi, cùng họ kết làm bạn lữ. Ngay trong thời đức Phật tại thế, khi ác quả của đệ tử đã hình thành, cũng chẳng còn nghe lọt chánh pháp, bèn lìa xa Tăng đoàn, lại đi tìm theo ngoại đạo sư, để rồi luống mất bốn mươi chín năm Như Lai chuyển pháp luân, đến khi muốn cầu gặp lại đức Phật xuất thế, chẳng biết phải trầm luân bao ngàn kiếp nữa mới được, thật là nỗi di hận muôn đời muôn kiếp…
Cho nên, tín ngưỡng Phật giáo, học tập Phật pháp, và tu chứng Phật pháp là ba tầng bậc. Có người làm Phật tử mà chưa hẳn học pháp, tu chứng, chỉ dừng ở niềm tin có chư Phật, Bồ-tát hiện hữu và từ bi gia hộ cho mình. Họ chỉ chí thành dâng hương, lễ bái, cầu nguyện, ấy cũng chỉ là gieo kết một duyên lành cùng chư Phật, Bồ-tát mà thôi. Song nhờ duyên ấy, rốt cùng rồi họ sẽ có cơ hội được nghe chánh pháp. (“Phật pháp” chính là kho tàng vô tận chư Phật, Bồ-tát đã chuẩn bị để nhiếp hóa muôn loài chúng sanh.)
Người học Phật pháp, có khi bề ngoài trông không giống một tín đồ Phật giáo thuần thành, họ có thể ít khi đến chùa thắp hương lễ bái. Nhưng trong tâm, họ như kẻ đói khát tìm cầu, chuyên tâm dốc sức vào kinh điển Phật giáo để hấp thụ dưỡng chất pháp vị. Càng thâm nhập vào diệu nghĩa kinh điển, tâm tri ân và kính ngưỡng của họ đối với chư Phật, Bồ Tát càng thêm sâu dày. Phật pháp liền trở thành niềm an lạc trong đời sống, và là ngọn đèn chánh pháp dẫn đường cho sinh mệnh.
Người tu chứng Phật pháp, tùy theo pháp môn đã chọn mà hành trì, có người chú trọng hình thức, có người thì không câu nệ tiểu tiết. Nhưng nếu là bậc hành giả thật tâm cầu đạo (khác với kẻ chỉ mượn Phật pháp để cầu danh trục lợi), thì Phật pháp sẽ trở thành tín niệm và toàn thể ý nghĩa sinh tồn trong đời sống của hành giả. “Bậc chứng đạo” chẳng đồng với kẻ ở thế gian chỉ lo ‘tu tâm dưỡng tính’, chú trọng vào “dưỡng sinh” mà thôi. “Bậc Chứng đạo” là người thực sự chuyển hóa trọn vẹn thân tâm, chiến thắng chính mình, trải qua trăm lần “tái sinh tự thân”, tức là khiến bản thân chết đi rồi sinh ra lại nhiều lần, là thử thách tột cùng đối với giới hạn sinh mạng con người. Như thường nói: chinh phục thế gian dễ, nhưng chinh phục chính mình khó. “Dùng thân chứng đạo” tức là chọn việc khó nhất trong cõi đời để thực hành. Trên đạo lộ ấy, có khổ có lạc; không phải tu chứng vài năm là có thể đoạn tận phiền não hoàn toàn. Trước khi chứng quả, một vị chứng đạo và một người phàm chẳng có gì bất đồng, chỉ bất đồng ở tầng mức phiền não, bởi cảnh giới mà sinh mạng hướng tới bất đồng. Khi chưa chứng Phật quả, người chứng đạo cũng trải qua thất bại, khổ đau, bệnh tật… Bởi trong nhân duyên thành đạo, không chỉ nhờ nỗ lực của chính mình, mà còn cần nhiều duyên trợ giúp, còn cần có môi trường xung quanh thuận lơi cho việc tu hành. Trong thời gian và không gian hiện tại, do thiếu thốn nhiều trợ duyên, việc chứng đạo ngày càng trở nên khó khăn, nhưng cũng không phải hoàn toàn không có cơ hội hay hy vọng. Chỉ khi thanh tẩy các nhiễm ô của thân tâm, trên phương diện nhận thức và cảm thọ cần dấn thân nhiều hơn mà thôi. Nguyện mọi hành giả tu chứng Phật pháp tinh tấn, nỗ lực, dùng trọn kiếp sống cuối cùng của mình để cầu giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.