Phần thứ ba: Những khái niệm cơ bản trong Phật học

1. Vô thượng chánh đẳng chánh giác: tức A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (âm dịch Phạn ngữ).

Trong Phật học, giác có phân thành Chánh giác, Đẳng giác và Vô thượng giác.

Chánh giác khác biệt với sự không giác của phàm phu và giác của ngoại đạo. Chúng sinh phàm phu không rõ chân tướng của muôn pháp, do phân biệt và chấp thủ sinh ra muôn vàn vọng tưởng đảo điên, tâm thức hỗn loạn mà không giác. Ngoại đạo dựa vào định lực và thần thông có giới hạn, thấy chân tướng của sự vật cũng mang giới hạn về thời gian và không gian, nhưng lại chấp đó là chân lý, lập nên nhiều lý thuyết không trọn vẹn hoặc sai lầm nơi nhân gian, tự cho mình là giác, nên không thể gọi là chánh giác.

Đẳng giác tức là viên giác. Khác biệt với A-la-hán và Bích-chi-phật. A-la-hán và Bích-chi-phật tuy cũng là chánh giác, nhưng hành trình giác ngộ chưa viên mãn. Phật là bậc viên giác, có thể tự giác, giác tha, phổ độ tất cả chúng sinh.

Vô thượng giác là khác với Bồ-tát, bởi Bồ-tát đã đắc địa nhưng phước huệ chưa viên mãn, trong khi Phật thì “Bi – trí – hạnh – nguyện” đều đã viên mãn tận cùng. Không ai có thể vượt qua bậc này, nên gọi là ‘Vô thượng giác’. Do đó, Vô thượng chánh đẳng chánh giác chỉ Phật mới có thể biết rõ và viên mãn chân tướng vũ trụ, đồng thời hành trình giác ngộ cũng trọn vẹn, không ai vượt lên trên Ngài được.

2. Bát-nhã trí tuệ

Ý chỉ trí tuệ tuôn chảy từ “tự tánh”, không phải phát xuất từ việc học hỏi bên ngoài hay phân tích ở mức ý thức. Phải thực chứng chân tướng của các pháp, như cảnh giới “duyên khởi tánh không”, mới có Bát-nhã trí tuệ. Trong thế gian, trí tuệ này không chỉ là sự khai ngộ của tâm tánh, mà còn bao hàm khả năng chứng đắc và vận dụng trí tuệ. Như Phật dùng trí tuệ của Ngài để đoạn tất cả vô minh phiền não, giải thích thực tướng của vũ trụ, đồng thời vận dụng sức mạnh của trí tuệ để cứu độ chúng sinh trong lục đạo luân hồi, thì gọi đó là Bát-nhã trí tuệ.

3. Tam thập nhị tướng bát thập tướng hảo, hoặc Tam thập nhị tướng bát thập tùy hình hảo.

Phật có dung mạo siêu việt. Ngài sở hữu tam thập nhị tướng nổi bật và bát thập tướng tùy hình tinh vi, gọi chung là ‘Tướng hảo’. Trong “luận Đại trí độ, quyển 4 ghi chép rằng:

An bình lập tướng:

  1. Túc hạ an bình lập tướng;
  2. Túc hạ thiên phúc (bức) luân tướng;
  3. Trường chỉ tướng (Chỉ Tiêm trường tướng);
  4. túc ngận quảng bình tướng (Gót chân bằng và rộng);
  5. Thủ túc chỉ mang võng tướng;
  6. Thủ túc nhu nhuyễn tướng;
  7. Túc phu cao mãn tướng;
  8. Nguyệt đoan như lộc vương tướng;
  9. Chánh bình lập ma tất tướng;
  10. Mã âm Tàng tướng;
  11. Thân quảng trường tướng;
  12. Mao thượng hướng tướng;
  13. Nhứt khổng nhứt mao tướng;
  14. Kim sắc tướng;
  15. Trượng Quang tướng;
  16. Tế bạc bì tướng (Bì phu tế nị tướng);
  17. Thất Xứ Long Mãn Tướng;
  18. lưỡng dịch hạ long mãn tướng;
  19. thượng thân như sư tử tướng;
  20. Đại trực thân tướng;
  21. Kiên viên hảo tướng;
  22. tứ thập xỉ tướng;
  23. Xỉ tề tướng;
  24. Nha bạch tướng;
  25. Sư tử giáp (má) tướng;
  26. vị trung đắc thượïng vị tướng;
  27. Đại thiệt (lưỡi) tướng;
  28. Phạm Thinh tướng;
  29. Chơn Thanh nhãn tướng;
  30. ngưu nhãn tiệp tướng;
  31. Đảnh kế tướng;
  32. Bạch mao tướng, Chặng mày có lông trắng, thường thì co cuộn, khi duỗi ra dài đến một trượng năm

Bát thập chủng tiểu tướng, được chép trong quyển ba trăm tám mươi mốt của Kinh Đại Bát-nhã. Ở đó chủ yếu nói về các tướng trạng kỳ đặc nơi đầu, mặt, mũi, miệng, mắt, tai, tay, chân… của Đức Phật. Như “Đệ nhất hảo”: móng tay Đức Phật thon dài, mỏng mịn, sáng trong sạch sẽ, sắc như đồng đỏ; “Đệ tam hảo”: ngón tay và ngón chân tròn trịa, thon dài mềm mại, không thấy đốt xương; “Đệ nhị thập bát hảo”: sắc môi đỏ tươi, nhuận sáng, trên dưới cân xứng; “Đệ tam thập nhất hảo”: tiếng nói hùng tráng như voi chúa rống, trong trẻo minh tịnh; “Đệ tam thập tam hảo”: sống mũi cao thẳng, không thấy lỗ mũi; “Đệ tam thập lục hảo”: đôi mắt xanh trắng phân minh; “Đệ tứ thập nhị hảo”: vành tai rộng lớn, thành hình như bánh xe; “Đệ tứ thập thất hảo”: tóc mọc dài, rậm rạp, sắc xanh biếc; “Đệ ngũ thập thất hảo”: diện mạo cân xứng, dài rộng điều hòa, sáng trong như trăng thu; “Đệ thất thập nhất hảo”: tiếng nói không cao không thấp, tùy thuận tâm ý chúng sanh, cùng ai nói cũng khiến lòng hoan hỷ; “Đệ thất thập tam hảo”: dùng một âm thanh mà thuyết pháp, mọi loài hữu tình tùy theo căn cơ của mình mà đều thông đạt, hiểu được; “Đệ bát thập chủng hảo”: nơi tay, chân và ngực đều hiện tướng cát tường hỷ chuyển (như chữ 卍 v.v…).

4. Gia hạnh

(1) Sự chuẩn bị trước khi bước vào chính tu, như lớp dự bị.

(2) Một cách giải thích khác: chẳng hạn tu sáu Ba-la-mật của Đại thừa: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, thì mỗi sự tu hành ở trước có thể trở thành gia hạnh cho sự tu hành ở sau; như bố thí là gia hạnh của trì giới.”

  • Công đức

Công đức được phân thành “công đức thế gian” và “công đức xuất thế gian”. Trong thế gian này, bất cứ một niệm khởi thiện hay một hành vi lành đều có thể tích lũy công đức; công đức ấy chiêu cảm quả báo thiện nghiệp. Việc tu chứng Phật pháp, hoằng dương Phật pháp là tích lũy công đức xuất thế gian, đưa đến phúc báo giải thoát luân hồi. Lại nữa, khi hành Bồ-tát đạo, cần vừa làm việc thiện, vừa tu chứng nơi chính khởi tâm động niệm của mình, đoạn trừ tham, sân, si, mạn, nghi, thì mới thật sự thành tựu công đức; nếu không, thì thiện hạnh ấy chỉ là trợ duyên hoặc phước báo thiện nghiệp mà thôi.

  • Quy y

“Quy y” là dịch ý từ tiếng Phạn Savana. Xét theo nghĩa chữ, “quy y” tức là quay về để nương tựa, tín phụng. Như người con xa nhà trở về với cha, liền cảm thấy ấm áp, được che chở, trong tâm hoan hỷ; Như dân nương nơi minh vương, khởi lòng tin cậy, được che chở hộ trì, tâm không sợ hãi. Quy y có nhiều tầng ý nghĩa…

Quy hồi bản tánh chân thật của mình. Đức Phật dạy rằng hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Thế nhưng, đối diện với bản hữu Phật tánh nơi chính mình, tâm ta vẫn hằng lưu lạc, không ngừng phiêu dạt.

Quy y Thượng sư: Tức là nương tựa nơi bậc Thầy tâm linh đã truyền pháp cho mình. Chính Ngài có thể dẫn dắt tâm đang phiêu lạc của ta trở về cố hương, và chỉ bày con đường đưa về nhà.

Quy y qua nghi lễ tôn giáo: Trong tự viện, thọ nhận Tam quy và Ngũ giới, trở thành một Phật tử chân chánh, lấy Phật pháp làm niềm tin của chính mình. Phật giáo là phương tiện để truyền bá và hoằng dương giáo pháp; nó biểu hiện giáo pháp của Đức Phật qua hình tướng hữu hình, hữu tướng. Hơn nữa, sứ mệnh của chư Tăng trong đời sống xuất gia cũng chính là lấy việc hoằng dương Chánh pháp làm chí nguyện. Do vậy, quy y cửa Phật, làm một Phật tử cũng chính là gián tiếp góp phần truyền bá và hoằng dương Phật pháp. Hơn nữa, khi đã thấu hiểu giáo nghĩa Phật pháp, sẽ không vì sự bất tịnh của tự viện, lỗi lầm của Tăng chúng hay sự suy hoại của giáo đoàn mà phủ nhận Chánh pháp, cũng không phủ nhận trí tuệ giác ngộ của Đức Phật.

  • Niết-bàn

Là âm dịch từ tiếng Phạn Nirvāṇa

① Trong Phật giáo, đó là cách nói thay thế để chỉ sự viên tịch của chư cao Tăng, đại đức.

② Cảnh giới tâm linh đạt được sau khi đã đoạn trừ sinh tử luân hồi.

③ Vô dư y Niết-bàn: Nhân quả của sinh tử đều đã dứt hết, không còn luân hồi trong ba cõi.”

④ Hữu dư y Niết-bàn: Các nhân phiền não của ‘sinh tử’ đã được đoạn trừ, song quả của sinh tử vẫn còn chờ dứt, tức báo thân vẫn còn lưu lại nơi thế gian.

⑤ Vô trụ xứ Niết-bàn: Đây là cảnh giới tối thượng của Đại thừa. Không trụ nơi sinh tử, cũng không trụ nơi Niết-bàn, mà tùy duyên lợi lạc hữu tình, cho đến cùng tận vị lai, vận dụng vô ngại mà vẫn thường tịch tĩnh, nên gọi là Niết-bàn.

  • Nam-mô

Là âm dịch từ tiếng Phạn namas, nghĩa là kính lễ, quy kính, quy mạng. Khi đặt trước danh hiệu Phật, biểu thị lòng tôn kính và tín tâm chí thành đối với Phật và Pháp.

  • Trai

Người xưa trước khi tế lễ hay cử hành nghi thức, thường thanh tịnh tâm ý và trau sạch thân thể gọi là ‘ trai’, nhằm biểu thị sự cung kính. Sau khi Phật giáo lưu truyền vào, chữ ‘trai’ có thêm hai ý nghĩa mới:

① Không ăn sau giờ ngọ, gọi là “trai”

② Ăn chay, gọi là “trai”.

  1. Triều sơn

Phật tử đến các danh sơn, đại tự để lễ bái Phật, cúng dường Bồ-tát, đồng thời tu tập và tu chứng Phật pháp.

  1. Tham thiền

Tham thiền là một trong những phương pháp tu hành của Thiền tông Phật giáo. Chữ “Tham” nghĩa là “tham cứu”; còn chữ “Thiền” nghĩa là “thiền đạo”.

Tham cứu đạo tu hành, cầu minh tâm kiến tánh, gọi là tham thiền.

  1. Đả thất

Nghi thức tu hành Phật Pháp

Thiền thất: Chư Tăng Thiền tông thường vào mùa đông, từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày 8 tháng 12, liên tục tiến hành tọa thiền tu chứng, tổng cộng bảy thất, bốn mươi chín ngày.

Phật thất: Là hoạt động niệm Phật của chư Tăng Tịnh độ tông. Có thể thực hiện bất cứ lúc nào; trong bảy thất, bốn mươi chín ngày, mỗi ngày chỉ niệm một câu danh hiệu Phật. Đồng thời, đánh mộc ngưkhánh để niệm, gọi là “đả niệm Phật thất”.

13. Ẩn tu

Đóng cửa không ra ngoài, hành giả tu hành sẽ trong một thời hạn nhất định ẩn cư trong một căn phòng, chuyên tâm niệm kinh và tọa thiền. Ngày nay cũng có hình thức ẩn tu tiện lợi hơn, tức hành giả bỏ các việc đời thường, chuyên tâm vào tu chứng.

14. Ngoại đạo

Phật giáo tự xưng lànội đạo, cho rằng các tông phái và học thuyết khác không thể viên mãn “khế hợp với Chân lý”, vì vậy gọi là ngoại đạo. Chủ yếu chỉ các “lục sư ngoại đạo và chín mươi sáu loại ngoại đạo” thời Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế. Về sau, từ này được mở rộng thành cách gọi khinh miệt đối với những dị giáo tà thuyết.

15. Thủ ấn

Là dịch nghĩa của từ Phạn mudra. Tùy theo hệ phái hoặc giáo lý, thủ ấn có những giải thích khác nhau giữa Hiển giáo và Mật giáo.

Dẫn khí mạch vận hành.

Chức năng “thiên tuyến”. Là một trong thân mật, thủ ấn mật dùng để liên lạc với chư Phật Bồ Tát; miệng trì chân ngôn, tay nắm thủ ấn mật.

Dùng thủ ấn để thị pháp, là ngôn ngữ của thân.

  1. Tọa thiền

Ngồi kiết già, để tâm nhập định.

  1. Quải đơn (ghi danh nhập thất)

Tăng sĩ hành khất tham vấn, khi đi qua các tự viện thì xin tạm trú

  1. Đa-bì Trà tỳ (hỏa táng, Tùy táng)

Từ Phạn jhapita phiên âm, cũng được dịch là Đa-bì, Đa-na, Đa-na-đa, Đa-vệ, Dã-vệ, Dã-thuận, nghĩa là thiêu thân, hỏa táng.

  1. Xá lợi

Là những tinh thể được hình thành sau khi người viên tịch hỏa táng. Hành giả tu tập thường có xá lợi này. Ngoài ra, một số hành giả sau khi viên tịch, toàn thân lâu không hoại, gọi là xá lợi toàn thân.

20. Lễ bái

Phật tử hướng về chư Phật, Bồ-tát, hoặc bậc Đại đức mà đảnh lễ, chiêm bái để biểu thị lòng tôn kính. Trong Ấn Độ cổ, có chín hình thức lễ bái.

  • Phát âm an ủi
  • Cúi đầu thị kính
  • Giơ tay cao vái
  • Hợp chưởng bình cung
  • Khuất gối
  • Trường quỳ
  • Thủ-tư-cự địa
  • Ngũ luân câu khập
  • Ngũ thể đầu địa

21. Hợp Thập

Còn gọi là Hợp Chưởng. Ban đầu là nghi thức lễ tạp của Ấn Độ cổ, sau đó Phật giáo kế thừa và sử dụng.

22. Đỉnh lễ

Hai khuỷu tay, hai đầu gối và trán chạm đất, gọi là “Ngũ thể đầu địa”; về sau, dùng trán chạm chân bậc tôn giả nên có tên gọi như vậy.

23. Nhiễu Phật

Nhiễu Phật về phía hữu (tức thuận theo chiều kim đồng hồ, để biểu thị lòng tôn kính đối với Phật).

24. Cúng dường

Có hai loại cúng dường: Một loại dùng thức ăn, tiền của… để cúng dường Phật, Bồ-tát, gọi là “Tài cúng dường”. Loại còn lại là giảng kinh thuyết pháp cho chúng sinh, gọi là “Pháp cúng dường”.

25. Kết duyên

Thông thường chỉ việc kết duyên với Phật pháp, nhằm tạo điều kiện cho sự đắc độ về sau. Đại thừa Phật giáo chủ trương: chưa thành Phật đạo, trước nên kết thiện duyên.

26. Khai Quang

Sau khi tạc tượng Phật, thông qua việc làm pháp sự để khai quang, gia trì cho tượng Phật. Sau khi khai quang, tác phẩm nghệ thuật trở thành cầu nối để thông linh với Phật Bồ-tát, để chúng sinh có thể đảnh lễ và cúng dường.

27. Pháp Hội

Lễ nghi và hội tụ trong Phật giáo được tổ chức nhằm thuyết pháp, cúng dường Phật, bố thí Tăng v.v. Lễ Phật đản còn gọi là “Dục Phật tiết”, để tưởng niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đến ngày này, các tự viện tổ chức pháp hội tụng kinh, và theo truyền thuyết “Khi Phật sinh, rồng phun mưa thơm tắm thân Phật”, dùng các hương danh tẩm nước để tắm tượng Phật, đồng thời cúng dường hoa quả và vật thực, tiến hành lễ bái Phật, tưởng niệm tổ tiên, bố thí cho Tăng và các hoạt động mừng lễ khác. Ở Trung Quốc, theo truyền thống Hán tộc, Lễ Phật đản rơi vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch.

28. Tam Ma Đề

Trạng thái thiền định. Trong Tam Ma Đề, hành giả sẽ nhập vào quên ngã, tạm thời quên cả thân tâm, đạt được khinh an và hỷ lạc.

29. Ban chu hành

Còn gọi là “Phật lập tam muội”. “ Ban chu” nghĩa là “hiện ra”, “Phật lập”. Nghĩa là khi tu thiền định này, chư Phật mười phương sẽ hiện tiền, giống như người sáng mắt ngắm sao trong đêm thanh tịnh, thấy chư Phật mười phương cũng nhiều như vậy. Theo “Kinh Ban chu Tam Muội”, nếu hành giả trong một ngày đêm, hoặc bảy ngày bảy đêm, một tâm chuyên niệm Phật, thì Phật sẽ hiện tiền trước mặt. Dựa vào điều này, Thiên Thai tông lập phương pháp tu “Thường hành tam muội”, mỗi kỳ ba tháng, hành giả một tâm thường niệm A Di Đà Phật, liên tục nhiễu quanh tượng Phật.

30. Ngồi kiết già

Gọi tắt là “kiết già”. Có hai kiểu: song bànđơn bàn. (an trụ, không mỏi mệt, thân tâm ngay thẳng nghiêm chỉnh).

31. Đại Tạng Kinh

Gọi tắt là ‘Tạng Kinh’, là Toàn bộ các kinh điển Phật giáo được biên soạn, tập hợp thành một tổng tập hoàn chỉnh. Bao gồm các bản văn Hán, Pali, Tạng, Mãn, Mông, Nhật, Tây Hạ, v.v…

32. Nhận thức việc cúng dường thường hằng đức Phật

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni Phật: nghĩa là bậc Thánh nhân của dòng tộc Thích-ca. Ngài là Giáo chủ cõi Ta-bà, bậc khai sáng Phật giáo nhân gian. Hai vị trợ thủ bên tả hữu là Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và Bồ-tát Phổ Hiền; Văn-thù cưỡi sư tử xanh, Phổ Hiền cưỡi voi trắng.

Đức Phật A-di-đà: nghĩa là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ. Ngài là Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Hai vị trợ thủ bên tả hữu là Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí. Bồ-tát Quán Âm thường tay cầm tịnh bình và nhành dương liễu, Bồ-tát Đại Thế Chí cầm như ý.

Đức Phật Dược Sư: là Giáo chủ cõi Đông Phương Lưu Ly. Dưới trướng Ngài có mười hai vị Dược-xoa thần tướng cùng với Nhật Quang Bồ-tát và Nguyệt Quang Bồ-tát. Ngài chẳng những tiêu trừ tai ách, kéo dài thọ mạng, mà còn trị liệu chứng bệnh luân hồi của sinh, lão, bệnh, tử; chủ yếu đối trị ba độc tham, sân, si.

  Bồ-tát Di-lặc: là Giáo chủ cõi Đâu-suất Thiên, vị Phật vị lai. Hình tượng thường được thể hiện theo dung mạo của Hòa thượng Bố Đại ở Minh Châu đời Ngũ Đại, với nụ cười hoan hỷ luôn nở rộng trên môi.

Bồ-tát Địa Tạng: tôn xưng là Đại Nguyện Địa Tạng, với đại nguyện: “Địa ngục chưa không, thề chưa thành Phật.” Thánh địa tu tập của Ngài tại Trung Hoa là núi Cửu Hoa, tỉnh An Huy.

Bồ-tát Quán Thế Âm: Nghe tiếng cứu khổ, nổi danh đại từ đại bi. Thánh địa đao tràng tại Trung Hoa là núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: tôn xưng là Đại Trí Văn-thù, vị Bồ-tát biểu thị cho trí tuệ của Phật pháp. Thánh địa đạo tràng tại Trung Hoa là núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây.

Bồ-tát Phổ Hiền: tôn xưng là Đại Hạnh Phổ Hiền, vị Bồ-tát biểu trưng cho hạnh nguyện rộng lớn như từ bi, trí tuệ, đại nguyện, v.v… Nếu chỉ nói mà không hành thì chỉ là hư ngôn. Thánh địa đạo tràng tại Trung Hoa là núi Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên.

Bồ-tát Vi-đà: vốn là một vị thiên thần Bà-la-môn. Tương truyền khi Đức Phật nhập Niết-bàn, có một quỷ thần lấy trộm hai chiếc xá lợi răng Phật, lúc ấy Ngài Vi-đà liền gấp rút đuổi theo và đem về. Do nhân duyên đó, Ngài trở thành vị Hộ pháp thần tướng trong Phật giáo.

Già-lam Thần: tức vị thần hộ trì đất Già-lam. Theo nghĩa rộng, chỉ tất cả chư Thiên thiện thần hộ trì Phật pháp. Y theo Kinh Thất Phật Bát Bồ-tát Đại Đà-la-ni Thần Chú, Già-lam Thần của Phật giáo là vị thần bảo hộ tự viện, được Đức Phật dạy rằng có mười tám vị thần cùng hộ trì Già-lam. Trong Phật giáo Trung Hoa, thường lấy Quan Công làm Già-lam Thần.

Tứ Đại Thiên Vương: Đông phương Trì Quốc Thiên Vương, tay cầm tỳ bà; Nam phương Tăng Trưởng Thiên Vương, tay cầm huệ kiếm; Tây phương Quảng Mục Thiên Vương, một tay cầm rắn, một tay cầm châu; Bắc phương Đa Văn Thiên Vương, tay cầm tán cái. Tứ Đại Thiên Vương chính là Hộ pháp thần của Phật pháp.

  • Tam thiên Đại thiên thế giới

Tam thiên Đại thiên thế giới là Vũ trụ quan trong Phật giáo. Trong Phạn ngữ, danh từ “thế giới” bao hàm song nghĩa thời gian”không gian”.

Trong Phật giáo cho rằng: Một ngày, một tháng, phạm vi mà nhật nguyệt chiếu soi đến, gọi là một tiểu thế giới. Tập hợp một ngàn tiểu thế giới thành một tiểu thiên thế giới. Tập hợp một ngàn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới. Tập hợp một ngàn trung thiên thế giới thành một đại thiên thế giới. Bởi trong đó có ba lần nhân với một ngàn, nên đại thiên thế giới cũng gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới, cho đến vô lượng đại thiên thế giới, gọi là một Phật độ.

Thế giới Ta-bà là dịch danh của “tam thiên đại thiên thế giới”. “Ta-bà” là âm dịch từ Phạn ngữ, nghĩa là kham nhẫn. Nghĩa là, chúng sinh trong cõi Ta-bà có thể kham nhẫn, chịu đựng các thứ khổ nghiệp, mà chẳng tự thấy là khổ đau, lại cũng chẳng cầu thoát ly. Phật giáo dạy rằng, chúng ta hiện sống trong cõi Ta-bà này, và bậc Giáo chủ của thế giới ấy chính là đức Phật Thích-ca Mâu-Ni.

34. Ngũ uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát giới.

(1) Ngũ uẩn

Phật giáo cho rằng, thế giới cùng sinh mệnh do năm loại nhân tố hòa hợp mà thành, ấy là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm loại nhân tố ấy gọi là ngũ uẩn.

Sắc uẩn là chỉ các vật chất, do địa, thủy, hỏa, phong hợp thành. Hết thảy trong thế giới đều là sự hòa hợp tạm thời của sắc. Bởi sự hòa hợp ấy luôn biến hóa vô thường, cho nên con người thấy có thành, trụ, hoại, không nơi vật chất, và có sinh tử luân hồi nơi sinh mệnh. Ở nơi thân người, sắc uẩn được phân thành nội sắc và ngoại sắc: nội sắc tức năm căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; ngoại sắc tức năm trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc.

Thọ uẩn (giác thọ) là chỉ những cảm thọ phát sinh do ngoại cảnh xúc chạm nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, mà khởi lên các cảm giác như đau ngứa, khổ lạc, ưu hỷ, Ái ố … tức là chỉ cho các hoạt động tâm lý của con người.”

Tưởng uẩn (tức khái niệm) là chỉ sự tri giác và biểu tượng phát sinh sau khi phân tích, phán đoán các cảm thọ mà ngoại giới khởi lên; đó là một hoạt động lý trí, có tác dụng khái niệm hóa. Ví dụ, khi con người nghe tiếng còi, tâm liền phân biệt đó là tiếng do xe phát ra, và định danh cho nó, ấy gọi là “tưởng”.

Hành uẩn (tức hành vi) là ý chí phát sinh từ nhận thức về ngoại cảnh, tương đương với hoạt động tâm lý và ý niệm. Tâm khởi từ hành uẩn chính là nguồn lực và nguyên nhân chủ yếu tạo nghiệp, vì những niệm ấy thúc đẩy thân, khẩu, ý để tạo nghiệp báo.

Thức uẩn (tức liễu biệt) là tổng thức của con người, tức gom hợp tam uẩn thọ, tưởng, hành mà thành, hình thành tri giác và phân biệt đối với các cảnh giới, đây chính là chức năng và kết quả của nhận thức.

Thức uẩn chỉ “lục thức” của “Tiểu thừa” cũng như “bát thức” mà các hệ phái Đại thừa Yoga (Hành Tưởng Yoga) thời sau giảng giải. Thức uẩn tương đương với toàn bộ hoạt động và nội dung nhận thức, cả cảm tính lẫn lý trí. Lục thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Bát thức ngoài sáu thức ấy còn bổ sung mạt-na thức và A-lại-da thức.

Bản chất của Ngũ uẩn là vô thường, khổ, không, vô ngã.

(2) Thập nhị xứ

Thập nhị xứ còn gọi là thập nhị nhập. Chữ ‘xứ’ trong Phạn ngữ nguyên nghĩa là ‘nơi được tiếp nhập’ hay ‘vật được tiếp nhập’. Nội dung của xứ là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tương ứng với sáu căn nơi con người: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn gọi là nội lục xứ, sáu trần gọi là ngoại lục xứ, hợp thành thập nhị xứ. Do đó, thập nhị xứ tức là: nhãn xứ, nhĩ xứ, tị xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ; sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.

(3) Thập bát giới

Thập bát giới là chỉ trên cơ sở mười hai xứ cộng thêm sáu thức, tức thành mười tám giới. Sáu thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Nội dung của thập bát giới như sau:

Nhãn giới – Sắc giới – Nhãn thức giới

Nhĩ giới – Thanh giới – Nhĩ thức giới

Tị giới – Hương giới – Tị thức giới

Thiệt giới – Vị giới – Thiệt thức giới

Thân giới – Xúc giới – Thân thức giới

Ý giới – Pháp giới – Ý thức giới

Phật dạy: tất cả pháp trong Thập bát giới đều là pháp vô thường, hoại diệt. Chỉ có Ý giới mới thông đạt đến các đời sau; Thập thất giới còn lại đều là pháp hư vọng, huyễn diệt, chỉ tồn tại trong một kiếp sống. Ý giới này cũng không tự nhiên mà có, mà do thức thứ tám – Tàng thức (A-lại-da thức) của Như Lai sinh ra.

Viết một bình luận