II. Pháp Quán niệm hơi thở
Quán hơi thở và đếm hơi thở là hai phương pháp khác nhau. Pháp Quán Hơi Thở trong Phật pháp được gọi là pháp môn “An-ban thủ ý”, tức là có thể nhận biết một cách rõ ràng trạng thái hô hấp của chính mình, đó gọi là quán hơi thở. Nói cách khác, hiện giờ mọi người đang ngồi nghe giảng, nhưng chưa hẳn biết rõ ngay lúc này mình đang hít vào hay đang thở ra. Ngay cả khi ban đêm nhắm mắt ngủ, hơi thở vẫn không hề dừng lại, suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày đều liên tục vận hành, thế nhưng chúng ta lại không thực sự biết rõ trạng thái hô hấp của mình.
Pháp Quán Hơi Thở là ngồi yên lặng, lắng tâm xuống để nhận biết trạng thái hô hấp của chính mình. Nghĩa là phải biết rõ hiện tại mình đang thở ra hay hít vào, hơi thở đang lạnh hay nóng, dài hay ngắn; tất cả các trạng thái của hơi thở đều phải được nhận biết rõ ràng. Nếu tâm đủ tĩnh lặng, thông qua pháp môn này bạn sẽ dần phát hiện rằng lúc ban đầu hơi thở còn gấp gáp, thô nặng, nhưng dần dần sẽ trở nên nhẹ nhàng, miên trường, vi tế và điều hòa. Khi tu tập đạt đến trạng thái vong ngã, có lúc bạn thậm chí không còn biết hơi thở phát xuất từ đâu; đôi khi sẽ cảm nhận như toàn thân, mỗi lỗ chân lông đều đang hô hấp, tiến vào trạng thái “thể hô hấp”. Thậm chí có thể cảm thấy chính mình như một tế bào đơn độc rỗng rang, chỉ còn sự hít vào và thở ra mà thôi. Nếu lấy pháp này để tu đạo, mỗi người có thể có những cảnh giới và trải nghiệm rất khác nhau. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không dùng Pháp Quán Hơi Thở để tu đạo, mà chỉ dùng nó như một phương tiện nhằm bồi dưỡng năng lực chuyên chú. Chỉ cần đem tâm ý đặt nơi trạng thái hô hấp của mình và để cho thân tâm dần dần lắng xuống là được. Pháp môn này có vị trí đặc biệt quan trọng trong Phật giáo Nguyên thủy, và tương truyền Tôn giả La Hầu La đã nương theo pháp môn này để chứng đắc quả vị A-la-hán.
III. Pháp Đếm Hơi Thở
Ngoài ra còn có phương pháp “đếm hơi thở”. Đây cũng là một phương pháp tương đối đơn giản. Có thể tính một lần hít vào và một lần thở ra là một nhịp, hoặc hít vào tính một, thở ra tính hai, đều được; cách đếm thế nào có thể tự mình quyết định. Ví dụ, nếu lấy một lần hít vào và một lần thở ra làm một nhịp, rồi đếm đến mười. Nếu sự chú tâm đủ mạnh, bạn sẽ đếm đúng đến mười; nhưng nếu tâm còn tán loạn thì có thể đếm thành mười hai, mười ba. Khi mới bắt đầu thực hành, tôi thường đếm đến mười lăm, bởi vì xen lẫn quá nhiều tạp niệm. Đây là một phương pháp rất đơn giản, dùng việc đếm số để chế ngự vọng niệm và sự tán loạn của tâm. Bởi khi ngồi xuống, trong tâm thường xuất hiện rất nhiều tạp niệm, nên phương pháp này được gọi là Pháp Đếm Hơi Thở.
IV. Trì Chú (Pháp Trì Danh Hiệu Để Nhập Thiền Định)
Ngoài ra còn có pháp trì chú. Đây là phương pháp “lấy một niệm thay cho muôn niệm”, nghĩa là trì niệm một danh hiệu Phật hoặc trì tụng một câu chú, rồi đem toàn bộ thân tâm an trụ nơi danh hiệu Phật hoặc câu chú ấy. Nhờ vậy, các tạp niệm sẽ dần giảm bớt, từ đó giúp chế ngự vọng tưởng và bồi dưỡng năng lực chuyên chú.
Chú ngữ có rất nhiều loại, thông thường có thể phân thành các nhóm cơ bản như: ① Chú thỉnh cầu, chẳng hạn như Bách Tự Minh; ② Chú tương ưng, như các tâm chú của chư Phật và chư Bồ Tát; ③ Chú hàng ma, như Lăng Nghiêm Chú; ④ Chú siêu độ, như Vãng Sinh Chú v.v…
Nếu phối hợp với việc tu tập thiền định, tốt nhất nên trì tụng các chú tương ưng, tức các tâm chú của chư Phật và chư Bồ Tát. Chẳng hạn, “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” là tâm chú của Bồ Tát Quán Thế Âm. Hành giả trì tụng lâu ngày không những có thể bồi dưỡng năng lực chuyên chú, mà còn có thể tương ưng với tâm nguyện “vô duyên từ, đồng thể đại bi” của Bồ Tát Quán Thế Âm, từ đó nhận được sự gia trì và hộ trì, đồng thời tiêu trừ phần nào nghiệp lực.
Khi trì tụng, tốt nhất nên nắm vững một số phương pháp. Chẳng hạn, hãy để âm thanh phát ra từ “hạ đan điền”, có phần giống với cách phát âm trong thanh nhạc. Hãy quán tưởng thân thể mình ở trong trạng thái rỗng không, đừng nghĩ đến tim, gan, tỳ, phế, thận đang ở đâu, mà hãy cảm nhận toàn thân là một thể rỗng rang. Sau đó để dòng âm thanh tràn đầy khắp thân thể, khiến âm thanh rung động toàn bộ mạch đạo bên trong. Hãy dùng dòng âm thanh ấy làm cho các mạch đạo cùng cộng hưởng và rung động. (Không nên chỉ dùng cổ họng để phát âm hoặc chỉ dùng miệng để tụng niệm.) Thực hành như vậy sẽ giúp hành giả dễ dàng đi vào trạng thái chuyên chú và định tĩnh. Nếu trì tụng đến một mức độ nhất định, khi năng lực chuyên chú đã đầy đủ, toàn bộ thân tâm của hành giả sẽ như hòa thành dòng âm thanh của “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn”, thể nhập vào biển âm thanh của pháp giới.
Trì niệm danh hiệu chư Phật và chư Bồ Tát cũng có năng lực gia trì rất lớn. Bởi chư Phật, chư Bồ Tát khi còn ở nhân địa tu hành đều đã phát những đại nguyện rộng lớn. Tuy mục đích của chúng ta ở đây là bồi dưỡng năng lực chuyên chú, nhưng nếu nói rằng chỉ trì niệm một cái cốc hay một cây chổi cũng được, thì về mặt chuyên chú quả thật vẫn có tác dụng. Tuy nhiên, khi trì niệm danh hiệu hoặc tâm chú của chư Phật, chư Bồ Tát, ngoài việc giúp tăng trưởng sự chuyên nhất của tâm, còn có thêm năng lực gia trì thù thắng. Bởi trước khi thành đạo, chư Phật và chư Bồ Tát đều từng phát đại nguyện. Chẳng hạn, Bồ Tát Quán Thế Âm phát nguyện cứu khổ cứu nạn, tầm thanh cứu khổ; Bồ Tát Địa Tạng phát nguyện: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”, v.v… Vì vậy, trì niệm danh hiệu của các Ngài sẽ dễ dàng tương ưng với nguyện lực của các Ngài, từ đó nhận được sự cứu độ, nhiếp thọ và gia trì.
Tóm lại, danh hiệu và chú ngữ để trì tụng có rất nhiều, nhưng phương pháp trì tụng mới là điều quan trọng hơn cả. Khi trì tụng, nhất định phải làm cho âm thanh rung động các mạch đạo, khiến từng tế bào trong thân đều cộng hưởng và rung động theo dòng âm thanh ấy. Đồng thời, quán tưởng toàn bộ thân thể từ hạ đan điền trở thành trạng thái rỗng không, rồi trì tụng trong trạng thái đó. Đó mới gọi là “trì tụng”. Nếu âm thanh chỉ dừng lại nơi cổ họng hoặc chỉ phát ra từ miệng, thì đó chỉ là “niệm tụng”. Chỉ thông qua trì tụng đúng nghĩa mới dễ dàng tiến vào trạng thái vong ngã và thể nhập định cảnh. Còn nếu chỉ niệm tụng thông thường để bồi dưỡng năng lực chuyên chú thì theo tôi hiệu quả sẽ chậm hơn, tuy vậy cũng không phải là không thể đạt được.
Đó là phần giới thiệu một số phương pháp rất đơn giản để bồi dưỡng năng lực chuyên chú. Vậy làm thế nào để phá bỏ sự lôi kéo của cõi vật chất, cõi quang âm và cõi ba động đối với chúng ta?
II. Phá Trừ “Ngã Chấp”.
就说我们要破除对自我的执着。什么是“我执”呢?就说我们要破除对自我这个刹那不断生灭的身心的执着,我们不执着这个我们就安住在真空地带。
Tức là chúng ta phải phá trừ sự chấp trước đối với tự ngã. Thế nào là “ngã chấp”? Chính là chấp trước vào thân tâm luôn sinh diệt trong từng khoảnh khắc này và nhận đó là chính mình. Một khi không còn chấp trước vào thân tâm sinh diệt ấy nữa, chúng ta liền có thể an trụ nơi vùng chân không.
Ở đây, chúng ta giới thiệu hai kiến địa quan trọng nhất trong Phật học: một là “nhân vô ngã”, hai là “pháp vô ngã”. Đây cũng chính là những kiến địa trong Phật học mà chúng ta thường đọc thấy trong kinh luận, nhưng đối với nhiều người lại có vẻ khá khô khan và khó lĩnh hội.
Thế nào là “nhân vô ngã”? Đó là nhận ra rằng cái thân và ý thức luôn sinh diệt không ngừng trong từng sát-na mà bạn cho là “mình” ấy, thực ra không phải là “bạn”. Trong cái gọi là “con người” này không hề có một cái “ta” chân thật nào cả, mà chỉ là một giả tướng luôn không ngừng sinh diệt. Hiện tượng ấy đang sinh diệt trong từng sát-na, nhưng đó không phải là bạn. Bạn vốn là bất sinh bất diệt, bạn vốn là Phật, đang ở một trạng thái khác, ở vùng chân không. Chỉ vì bị huyễn cảnh này lôi kéo nên không thể giải thoát. Huyễn cảnh ấy bao gồm thân tâm sinh diệt không ngừng trong từng sát-na này, và dĩ nhiên cũng bao gồm ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là những thuật ngữ thường dùng trong Phật học. “Sắc” là vật chất, nói đơn giản là tất cả những hình thái vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy hoặc chạm đến; tất cả đều được gọi chung là “sắc”. “Thọ” là mọi cảm thọ của bạn; cảm giác nóng, tê, lạnh, trướng, đau là thọ, cảm thấy vui vẻ là thọ, không vui cũng là thọ. “Tưởng” là những ý niệm và tư tưởng sinh diệt không ngừng trong từng sát-na, sự dao động liên tục của tâm niệm ấy gọi là “tưởng”. “Hành” là tất cả các hành vi và sự vận hành của thân tâm. “Thức” là các khái niệm, kinh nghiệm và nhận thức của bạn. Đó chính là ngũ uẩn được nói đến trong câu “ngũ uẩn giai không” của “Tâm Kinh”. Tất cả những thứ ấy đều thuộc về một phần của cái tự ngã mà chúng ta đang chấp trước; cái mà chúng ta gọi là “ta” chính là do những yếu tố ấy hợp thành.
“Pháp vô ngã” là một kiến địa hết sức quan trọng trong Phật học. Điều đó có nghĩa là không chỉ con người, mà tất cả vạn sự vạn vật cũng đều không có một “tự ngã chân thật” tồn tại. Chúng chỉ là do nhân duyên hòa hợp thì sinh khởi, nhân duyên tan rã thì hoại diệt. Đây chính là điều mà Phật pháp gọi là “duyên khởi”. Ví dụ như một cái bàn, muốn hình thành nó phải có gỗ, có vật liệu, có người thợ làm bàn và nhiều nhân duyên khác cùng hội đủ. Khi các nhân duyên ấy đầy đủ thì cái bàn được tạo thành. Thế nhưng “cái bàn” chỉ là một danh xưng giả lập mà thôi. Xét trên chính bản thân cái bàn, nó cũng chỉ là nhân duyên hòa hợp thì hiện hữu, nhân duyên tan rã thì không còn. Nếu không có người thợ làm bàn, không có tấm gỗ, hoặc các nhân duyên tạo thành nó không tồn tại, thì cái bàn này cũng sẽ không tồn tại.
“Ngã chấp” chính là sự chấp trước vào tất cả những huyễn tướng không chân thật ấy, cho rằng chúng là thực có; chấp rằng cái “ta” này là thực có, đặc biệt là chấp thân xác này là thực có. Vì không thấy được tính hư huyễn của chúng nên bị chúng xoay chuyển và chi phối. Không chỉ là một câu nói hay một âm thanh, mà còn bao gồm từng sắc, thọ, tưởng, hành, thức của thân tâm này; từ ý thức, kinh nghiệm, cảm thọ cho đến mọi trải nghiệm của bạn. Tất cả những thứ ấy, vì không thấy được bản chất hư huyễn của chúng nên bạn bị chúng dẫn dắt, bị chúng nhiếp thọ và chi phối. Sự chấp trước vào tất cả những điều đó chính là “ngã chấp”.
Thật ra, qua nhiều năm tu chứng, tôi nhận thấy rằng khi mới bắt đầu phá trừ ngã chấp, sự quấy nhiễu và lôi kéo lớn nhất vẫn là “tình dục”. Có lúc nói rằng “cái ngã chính là tình dục” cũng không hẳn là không có lý. Hãy nhìn vào dòng ý niệm cuồn cuộn không ngừng trong tâm thức chúng ta, từ sáng đến tối chẳng qua cũng chỉ xoay quanh danh, lợi và tình dục. Điều mà chúng ta không ngừng luân chuyển, không ngừng bị lôi kéo, cũng chính là những thứ ấy. Trong đó, khó phá trừ nhất chính là tình dục. Một khi phá được tình dục rồi thì danh lợi và những thứ khác lại tương đối dễ buông bỏ hơn. Thực ra, đôi khi sự cố chấp đối với danh lợi cũng chỉ là một lối thoát khác mà con người tìm kiếm khi những ham muốn tình cảm và dục vọng không được thỏa mãn.Phá trừ tình dục là một vấn đề vô cùng khó khăn. Có những người lớn tuổi nói rằng mình đã rất lâu không có quan hệ nam nữ, dường như đã không còn tình dục nữa. Trong thời cổ đại, thậm chí có những tăng nhân vì muốn đoạn trừ tình dục mà tự hủy hoại cơ quan sinh dục của mình. Thế nhưng, đoạn trừ tình dục hoàn toàn không phải là hủy bỏ cơ quan sinh dục hay không có hành vi tình dục là có thể đạt được. Không có hành vi tình dục không đồng nghĩa với việc không còn tình dục. Nếu khảo sát theo nghĩa rộng hơn, tình dục còn bao hàm cả tình yêu, tình bạn, tình thân và nhiều dạng tình cảm khác. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ bàn đến phương diện thiên về hệ thống sinh lý và sự quấy nhiễu của nó đối với việc tu tập.
Có câu rằng: “Hỏi thế gian tình là vật gì, mà khiến người nguyện sống chết vì nhau.” Thật vậy, mấy nghìn năm qua, biết bao thi từ ca phú đã được sáng tác vì chữ tình, thế nhưng tình vẫn là điều không thể nói cho tận, cũng không thể luận cho tường. Hầu như mỗi một chúng sinh có tình cảm đều đang tự mình nếm trải trong đó đủ vị chua, ngọt, đắng, cay. Vì vậy, trong Phật pháp, việc cứu độ chúng sinh được gọi là cứu độ “hữu tình chúng sinh”, và tất cả chúng ta đều thuộc về hàng hữu tình chúng sinh. Tuy nhiên, nếu đứng từ góc độ tu chứng mà quán chiếu, thì tình là gì? Thật ra, tình chẳng là gì cả. Nếu dùng một ví dụ đơn giản để nói, thì trong cõi vật chất, nó chỉ là một hiện tượng bề mặt, chỉ là một hình tướng. Bạn động tình là vì một hình tướng nào đó khiến tâm bạn dao động, vì cho rằng người ấy đẹp hay xấu; nó là một cảm thọ hư vọng mà bạn cảm nhận; là một niệm tưởng khởi lên trong tâm; là những điều bạn suy nghĩ; là những hành vi bạn tạo tác; là những kinh nghiệm và cảm nhận bạn trải qua. Đó chính là tình. Nói cho cùng, tình cũng chỉ là ngũ uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mà ngũ uẩn được nói đến trong “Tâm Kinh” đều là tình.
Trong cõi quang âm, tình là gì? Tình là ánh sáng và âm thanh, không còn thuộc tầng diện vật chất. Trong cõi ba động, tình chính là sự rung động. Từ cõi vật chất cho đến cõi ba động, hầu như mọi hành giả đều đang phá trừ tình dục, đều đang vượt qua sự lôi kéo của tình dục. Ngay cả khi đã chuyển thành sự rung động trong cõi ba động, đó vẫn là sự rung động của tình. Thậm chí khi tiến vào vùng chân không, đạt đến trạng thái “không ngã”, vẫn còn có tình yêu thương phổ chiếu muôn loài và tâm nguyện cứu độ chúng sinh. Vì vậy, Bồ Tát vẫn chưa vượt khỏi phạm vi của tình. Ngay cả Bồ Tát Bát Địa cũng chưa phá được điều này, bởi vẫn còn tâm nguyện độ sinh hiện hữu nơi đó. Cho dù tình yêu thương ở tầng “không ngã” đã thăng hoa thành từ bi, thì vẫn còn thuộc về phạm vi của hữu tình chúng sinh, vẫn chưa phải là sự giải thoát rốt ráo. Hơn nữa, dù đã tiến vào vùng chân không, nhưng trong cõi vật chất và cõi quang âm vẫn còn những sự phóng chiếu của vị ấy. Trong những sự phóng chiếu ấy vẫn còn những nhân duyên nhiều đời nhiều kiếp cần phải hoàn mãn, vẫn còn cộng nghiệp và biệt nghiệp mà chính mình phải gánh vác; đồng thời còn có việc cứu độ chúng sinh, còn phải đảm nhận những quả báo do cộng nghiệp của chúng sinh tạo thành. Tất cả những điều đó cũng là vì vẫn chưa hoàn toàn vượt khỏi phạm vi của tình, nên vẫn còn phải đảm đương và gánh vác.
Có thể nói, tình dục từ trước đến nay vẫn luôn là một trong những chướng ngại lớn nhất trên con đường tu chứng của con người. Khi con người trưởng thành về mặt sinh lý, có thể nói mỗi người đều là một hạt giống của tình dục. Chúng ta sinh ra từ sự kết hợp của cha mẹ, từ ái dục của cha mẹ mà có mặt nơi đời, nên cũng có thể nói rằng chúng ta là những hạt giống của tình dục. Chỉ cần nhân duyên đầy đủ, hạt giống ấy bất cứ lúc nào cũng có thể nảy mầm, đơm hoa và kết quả. Mà trong thế giới này lại có quá nhiều nhân duyên; đặc biệt trong thời đại mạng internet, khoảng cách thời gian và không gian bị rút ngắn, các điều kiện để nhân duyên hội đủ trở nên quá dễ dàng. Nếu muốn, có người có thể không ngừng nở hoa trong những nhân duyên khác nhau suốt cả cuộc đời, cho đến lúc mạng sống chấm dứt. Ở đây, trước hết chúng ta không bàn đến vấn đề ấy dưới góc độ đạo đức, phẩm chất, trách nhiệm hay nghĩa vụ của con người, mà chỉ luận về kết quả của nó từ phương diện tu chứng Phật học. Bởi qua nhiều năm tu chứng, tôi nhận thấy rất nhiều người trẻ tuổi trên đường tu hành luôn bị tình dục lôi kéo, không thể tự giải thoát khỏi sự trói buộc ấy. Rất nhiều trường hợp tu tập đã đạt đến một trình độ nhất định, nhưng rồi đột nhiên vì sự dẫn dắt của tình dục mà thoái chuyển và rơi trở xuống.
Chúng ta chỉ xét đến kết quả của việc ấy trên phương diện tu chứng Phật học.
(I) Kết duyên vô số, mà tình duyên lại là loại nhân duyên khó đoạn dứt nhất. Bởi nó không thể trao đổi ngang giá; không thể nói rằng tôi yêu bạn một lần, rồi bạn cũng yêu tôi một lần là mọi việc kết thúc. Điều đó là không thể.
(II) Có những người không ngừng thay đổi đối tượng mình yêu thích, khiến rất nhiều người chấp trước vào tình dục phải chịu tổn thương. Từ đó, tình dục dẫn đến những nghịch duyên khắc cốt ghi tâm, khó có thể quên được. Điều này là bất lợi đối với sự tu chứng.
(III) Tâm thần dễ bị tán thất, ý niệm không thể chuyên nhất, cũng không thể chuyên chú để tiến nhập thiền định.
(IV) Năng lượng dễ bị tán thất, dễ làm hao tổn và thất thoát năng lượng.
(V) Tâm đố kỵ, sân hận và dục vọng chiếm hữu của chính mình sẽ ngày càng mạnh hơn, rất khó có thể hoàn toàn lắng xuống.
(VI) Con người sẽ dần trở nên giả dối, thiếu chân thành và thường xuyên nói dối; mặt tối trong nội tâm cũng theo đó mà ngày càng tăng trưởng. Sự u ám ấy khiến người ta cảm thấy cuộc sống không còn ý nghĩa, bởi quang minh và quang đãng tượng trưng cho sự sinh khởi và phát triển, còn u tối lại tượng trưng cho sự suy tàn và cái chết. Tóm lại, tình dục chính là huyễn cảnh khiến người tu chứng khó giải thoát nhất trong cõi vật chất và cõi quang âm. Bởi lẽ, chính chúng ta vốn là những hạt giống của tình dục.
Trong Phật giáo Tiểu thừa, các bậc Tứ quả A-la-hán ngay từ khi bắt đầu tu hành đã lìa bỏ tình ái và dục vọng, xuất gia cạo tóc, nghiêm trì giới luật, tu tập Tứ thiền Bát định. Có thể nói, theo cách nhìn này, các Ngài đã chọn cách tránh xa huyễn cảnh ấy. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không phải khuyên mọi người đều phải lìa tình đoạn dục hay xuất gia, mà là cần hiểu rõ những chướng ngại mà tình dục mang lại trên con đường tu chứng. Các bậc Tứ quả A-la-hán tu tập Tứ thiền Bát định, trên một phương diện nào đó có thể xem như đã tránh xa huyễn cảnh ấy. Sau khi nhập định, các Ngài an trụ trong thiền định và lấy tịch diệt làm niềm vui. Thế nhưng, “tịch diệt” thực ra chỉ là một mặt được hiển hiện trong cõi vật chất; mặt còn lại của tịch diệt chính là “sinh phát”. Nếu đứng từ cõi ba động mà nhìn, thì tịch diệt và sinh phát là đồng thời tồn tại, chỉ là khi hiển hiện nơi cõi vật chất thì biểu hiện thành tướng “tịch diệt”. Trong cõi ba động, “tịch diệt” và “sinh phát” vốn đồng thời hiện hữu. Khi an trụ trong tịch diệt suốt một thời gian dài, một khi nhân duyên hội đủ, các vị A-la-hán nhất định sẽ xuất định. Vì thế, trong một số kinh điển có nói rằng có những vị A-la-hán nhập định trải qua vô số đại kiếp, thời gian lâu dài không thể nghĩ bàn. Công phu thiền định của các Ngài vô cùng thâm sâu, có thể an trụ trong định suốt nhiều năm, thậm chí hàng trăm năm mà không xuất định. Nhưng một khi nhân duyên chín muồi, các Ngài vẫn sẽ từ thiền định mà xuất ra. Khi ấy, các Ngài thường cảm thấy hết sức mờ mịt, thậm chí tự hỏi: “Ta đang ở đâu? Hiện nay là thời đại nào?” Bởi các Ngài chưa hiểu rằng điều mình muốn tránh né là tình dục, nhưng tình dục ấy vẫn luôn đi theo mình. Thật ra, mỗi người chính là tình dục ấy; ai cũng là tình dục ấy, nên không có gì để trốn tránh cả. Điều mà các Ngài tránh được chỉ là không tạo điều kiện và cơ hội cho hạt giống ấy nảy mầm, đơm hoa và kết quả mà thôi.
Hạt giống vẫn còn đó, chúng sinh vẫn là hữu tình, những túc duyên từ nhiều đời vẫn còn đó. Nhưng sau khi chứng đắc Tứ thiền Bát định, bậc A-la-hán có thể nương nơi định lực mà khiến tất cả các “cảm thọ” của mình đi vào trạng thái tịch diệt. Đôi khi chúng ta không thể chế ngự được sự cám dỗ của tình dục, bởi các cảm thọ ấy chúng ta chưa thể quán không được. Nhưng A-la-hán nhờ định lực của Tứ thiền Bát định có thể khiến mọi cảm thọ của thân tâm đều lắng vào tịch diệt. Khi nhập định, các Ngài chỉ còn một hơi thở cực kỳ vi tế. Vi tế đến mức nào? Có thể nói chỉ đủ sức làm lay động một sợi lông mà thôi. Định tịch diệt của A-la-hán có thể đạt đến cảnh giới như vậy, gần như khí dừng, mạch lặng, nhưng vẫn còn tồn tại một hơi thở vô cùng vi tế. Vì thế, sau khi xuất định, mọi sự trên thế gian này, kể cả tình dục, đối với một vị A-la-hán đã chứng Tứ quả ngay trong đời hiện tại, cũng chỉ giống như làm cho một sợi lông khẽ rung động mà thôi. Các Ngài thật sự là người “bát phong xuy bất động”, không bị tám ngọn gió thế gian làm lay động: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Các Ngài hoàn toàn nương vào định lực để đối diện và vượt qua tất cả.Thế nhưng, những túc duyên vẫn cần được hoàn mãn. Nếu muốn viên mãn Phật quả giữa nhân gian, các Ngài phải cứu độ chúng sinh. Mà chúng sinh lại đang ở trong vòng tình dục và ái nhiễm. Với một tâm quá lạnh lùng, cứng rắn như sắt đá thì không thể độ được những chúng sinh có duyên. Vì vậy mới xuất hiện Bồ Tát đạo. Do đó, rất nhiều vị A-la-hán bắt đầu phát khởi tâm Bồ Tát, bắt đầu đi vào con đường phổ độ chúng sinh. Khi tâm từ bi sinh khởi, các Ngài không còn quá chú trọng đến những hình thức bên ngoài nữa, mà lấy “nhiếp tâm làm giới”. Trong từng thời từng khắc, các Ngài luôn chú ý đến sự biến chuyển của tâm thức mình, luôn quán chiếu xem tâm mình có còn ở trong giới luật hay không. Đối với các hình thức bên ngoài, các Ngài dần buông xuống. Từ đó mới hình thành Bồ Tát đạo. Bồ Tát đạo lấy “nhiếp tâm làm giới”, nghĩa là tâm phải luôn an trụ trong không định, rồi từ đó đi vào giữa cõi hồng trần, dùng đủ mọi phương tiện thiện xảo để cứu độ chúng sinh, thậm chí bao gồm cả việc tùy thuận những nhu cầu thuộc phương diện tình cảm và dục vọng của chúng sinh. Tuy nhiên, những vị Bồ Tát như vậy, trong thời đại hiện nay hầu như rất khó gặp được.
Đối với những hành giả trực tiếp tu theo Bồ Tát đạo, bất luận căn cơ nhiều đời trong quá khứ như thế nào, thì ngay trong đời hiện tại vừa phải cứu độ chúng sinh, vừa phải tu chứng được định lực của bậc Tứ quả A-la-hán, đó vẫn là một việc hết sức khó khăn. Bởi vì có những sự chuyển hóa trong công phu thiền định, có những nhân duyên không phải chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân là có thể hoàn thành được. Đôi khi, cộng nghiệp của vũ trụ và sự biến chuyển của thời không cũng sẽ tạo thành ảnh hưởng đối với sự tu chứng của chúng ta. Có những việc không phải chỉ cần cố gắng là có thể đạt được.