PHẨM THỨ BA: ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

Phật cáo Tu Bồ Đề: “Chư Bồ tát ma ha tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm ! Sở hữu nhất thiết chúng sinh chi loại: Nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh; Nhược hữu sắc, nhược vô sắc; nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập vô dư niết bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh, thật vô chúng sinh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhược Bồ tát hữu ngã tướng, nhơn tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ tát.”

Trước khi giảng phẩm nầy, chúng ta nên giải thích vài khái niệm. Trong kinh đức Phật đề cập đến: Loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, loài sinh nơi ẩm thấp, loài biến hóa sinh ra, có sắc tướng, vô sắc tướng, có tưởng, không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, đây là cách đức Phật phân loại các thứ hình thái sinh mệnh của tất cả chúng sinh trong ba cõi.

Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, là bốn thứ hình thái sinh mạng của cõi dục:

“ Noãn sanh” tức là sinh mệnh của loài từ trong trứng nở ra, như gà, vịt.v.v…; “Thai sanh” tức là sinh mệnh ở trong thai người mẹ nuôi dưỡng mà thành, ví như con

người là thai sanh; “Thấp sanh” là sinh mệnh nhân duyên từ nơi ẩm ướt mà sinh ra, ví như những con trùng nhỏ ở trong nước trong khe đất sinh ra; “hóa sanh” là dựa vào nghiệp lực, dựa vào hư không hóa sanh, như sinh mệnh của trời cõi dục tức là hóa sanh.

“Hữu sắc” là chỉ sinh mệnh cõi sắc, chỉ có sắc thân, không có tình dục; “vô sắc” là chỉ sinh mệnh của cõi vô sắc, chỉ có ý thức, không có tình dục và sắc thân; “hữu tưởng”, “vô tưởng”, “Phi hữu tưởng”, “Phi vô tưởng” là đối với phân loại sinh mệnh càng vi tế của cõi vô sắc.

“Hữu tưởng” là chỉ có hoạt động suy nghĩ. “Vô tưởng” là chỉ hoạt động suy nghĩ đã dừng nghỉ, nhưng cũng không giống như gỗ đá. Phi hữu tưởng, phi vô tưởng, là chỉ hoạt động suy nghĩ dù thôi ngừng, không có tư tưởng nữa, nhưng có thể là một thứ trạng thái sinh mệnh tùy lúc sẽ biết suy nghĩ, tức là có một thứ tưởng ở thế động.

Trong kinh đức Phật nói, những hình thái sinh mệnh trong ba cõi, mặc dù hình thức tồn tại muôn ngàn khác biệt, trái lại có hiện tượng chung đó là đều trong luân hồi sinh diệt, không thể tự do giải thoát. Mà họ cũng có cùng bản tánh giống nhau như vậy, bản tánh đều là Phật, đầy đủ tất cả, chẳng sinh chẳng diệt.

Trong kinh còn đề cập đến hai khái niệm: Một là “Vô dư niết bàn”, hai là “Hữu dư niết bàn”. “Niết bàn” dịch từ âm tiếng Phạn. Trong Phật pháp chứng nhập vào cảnh giới giải thoát chẳng sinh chẳng diệt, gọi là “niết bàn”. “Niết bàn” chia thành “Hữu dư niết bàn” và “Vô dư niết bàn”, thông thường cảnh giới niết bàn của bậc A la hán gọi là “Hữu dư niết bàn”. Bởi vì bốn quả A la hán dù tạm thời có thể trụ ở trong định không đi vào sinh tử luân hồi thời gian rất dài, nhưng nhân duyên đầy đủ, vẫn sẽ xuất định, luân hồi trở lại, do đó giải thoát chẳng rốt ráo, gọi là “Hữu dư niết bàn”. Cảnh giới niết bàn của Phật triệt để từ trong luân hồi giải thoát, sinh mệnh hoàn toàn từ trong tướng giả của ô nhiễm sinh diệt giải thoát ra, được đại tự tại của sự vĩnh hằng chẳng sinh chẳng diệt, do đó thứ niết bàn nầy gọi là “Vô dư niết bàn”.

Trong kinh còn đề cập đến “Tướng ngã”, “Tướng nhơn”, “Tướng chúng sinh”, “Tướng thọ giả”.

Vậy thì “ngã tướng” là gì? Mỗi một người đều có một định nghĩa của “tự ngã”, như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý hợp thành, mà còn khác biệt với người khác. Tâm thức của chúng ta tuy đầu thai vào cõi người, nhưng mỗi người đều có đầy đủ trạng thái ý thức của sáu cõi. Thí như: Khi chúng ta sân hận, tật đố, thì tâm đó đang ở cõi A tu la; khi khao khát sự thánh thiện, tinh khiết, tâm đang ở cõi trời; khi chúng ta trải qua đau khổ tột cùng tâm đang ở cõi địa ngục. Nhưng nếu quí vị định nghĩa bản thân mình ở bất cứ cõi nào đều là sai cả. Chân tướng đó — quí vị là Phật, có thể tự tại vô ngại thị hiện các thứ tướng. Bởi vì quí vị chấp trước và không hiểu chân lý, chúng ta bèn bị các thứ nghiệp lực lôi kéo do mình tao ra, mắc kẹt trong trạng thái ý thức sinh mệnh chẳng giống nhau, không cách nào tự mình thoát ra. Con người đối với tự ngã, định nghĩa của

trong ngoài thân tâm, như nhận biết, thể nghiệm, cảm thọ, lấy bỏ, đều là “tướng ngã”. Con người cho là “tự ngã” thật có, thật ra “tự ngã” là cái hư vọng.

“Nhơn tướng” là gì? Tức là người đối với tất cả định nghĩa, nhận biết, thể nghiệm.v.v.của trong ngoài thân tâm của người khác. Cho là thật có một con người như vậy tồn tại, từ đó sinh ra mối tình cảm vui thích, ghét bỏ, lấy bỏ hoặc chiếm hữu.

“Chúng sinh tướng”, trong kinh nói ba cõi sáu đường có các loài chúng sinh tướng mạo và hình thái ý thức chẳng đồng, đều trải qua khổ ách ở trong luân hồi sinh diệt, không thể trở về Phật tính vốn có.

“Thọ giả tướng”, “Thọ” tức là thời gian từ sinh ra đến chết đi. Nhưng người ta đều thích sống lâu không chết, không muốn chết mất, đó tức là “thọ giả tướng”. Kỳ thật chấp trước “thọ giả tướng” cũng là chấp trước tướng sinh diệt của vạn pháp.

Đại ý của phẩm kinh nầy là: Đức Phật bảo Tu Bồ Đề, hết thảy đại Bồ tát muốn thành tựu quả vị Phật vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì trước tiên phải khởi tâm đại từ bi, phát nguyện rộng lớn độ chúng sinh trong ba cõi. Cho dù là loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng có

tưởng, chẳng không tưởng, đều phải phát nguyện độ họ được giải thoát, khiến họ đạt đến cảnh giới Phật niết bàn bất sinh bất diệt, từ trong sinh tử luân hồi được giải thoát. Nhưng, cho dù cứu độ chúng sinh vô lượng vô biên như vậy Bồ Tát trong cái nhìn thấu suốt vẫn phải nhận thức rằng: Không có một chúng sinh nào thông qua sự cứu độ của mình thành Phật cả. Đức Phật nói, tại vì sao phải nghĩ như vậy? Đức Phật bảo ông Tu Bồ Đề, một vị Bồ Tát chân chánh thực hành Bồ Tát đạo, thì không thể có cái phân biệt thật có của tôi, anh, và anh ấy, cũng không thể có các thứ tướng sai khác của chúng sinh, không thể có tướng sinh diệt của vạn pháp, mong cầu sống mãi chẳng già.

Vì sao vừa mở đầu đức Phật liền nói đến vấn đề rộng độ chúng sinh? Bởi vì khi một người phát tâm thành Phật, nên biết tự mình là phải trở về đầu nguồn của sinh mệnh. Còn đứng ở đầu nguồn của sinh mệnh nhìn thấy tâm của chúng ta bao hàm tất cả vũ trụ, tâm mỗi một người đều là toàn bộ tin tức hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ. Cho nên khi một người cùng lúc phát nguyện thành tựu quả Phật, cũng có ý là đang phát nguyện rộng độ tất cả chúng sinh hữu tình trong vũ trụ. Do đó, hoằng dương Phật pháp, phổ độ chúng sinh bèn trở thành sứ mệnh của một vị đại Bồ Tát. Do đó chúng ta cũng nên biết sứ mệnh của một vị Bồ Tát ở nhơn gian không phải làm sự nghiệp từ thiện, mà là khiến chúng sinh hiểu rõ chân tướng của sinh mệnh, độ chúng sinh thoát khỏi bể khổ luân hồi sinh tử, chớ xem việc thiện nhỏ mà không làm, chỉ là mỗi vị Bồ Tát thành đạo phẩm chất thảy đều đầy đủ.

Nhưng khi Bồ Tát phát tâm rộng độ chúng sinh, trước tiên không nên có sự tuyển chọn tốt xấu, người nào thích thì độ, kẻ không thích thì không độ, phải có nguyện lực và tâm bình đẳng độ hết ba cõi. Hơn nữa không thể có nhận biết quí vị, tôi, người khác và chúng sinh thật có, không thì khổ nạn và phiền não của Bồ Tát đến liền. Trên cái nhìn thấu suốt căn bản quí vị nhất định phải hiểu rõ, quí vị và chúng sinh bản tính đều là Phật, tự tính chúng sinh vốn chẳng sinh chẳng diệt, vốn là niết bàn thanh tịnh, chứ không phải có một mình quí vị có thể khiến họ có bản chất như vậy. Bồ tát đối với chúng sinh, như thuốc đối với bệnh trong mộng, sau khi tỉnh mộng rồi thuốc và bệnh đều là hư vọng không thật. Trong Chân không không có Bồ Tát, cũng không chúng sinh. Nếu cái hìn thấu suốt của Bồ Tát rõ ràng chính xác, thì khi độ chúng sinh sẽ không mong cầu báo đáp và hiểu biết từ họ cũng sẽ không bị các thứ trạng thái mê hoặc của chúng sinh biểu hiện ra, từ đó mà tâm sinh phiền não, không thể nào an trụ trên cảnh giới như như bất động.

Khi tôi vừa đọc qua “Kinh Kim Cang”, khi đọc xong phẩm nầy, tôi ngẩng đầu suy nghĩ: Đây là Phật muốn chúng ta phát nguyện phổ độ chúng sinh. Lúc đó đang đối diện vách tường có một con ruồi, tôi nghĩ con ruồi là loài sinh ra bằng trứng, Phật nói, ta nên phát nguyện độ con ruồi thuộc sinh ra bằng trứng vào vô dư niết bàn để nó được diệt độ. Tôi trừng mắt nhìn con ruồi, tâm suy nghĩ: Nếu như tôi trong lúc nầy phát nguyện độ con ruồi nầy thành đạo, trời ơi! Thế thì cần bao lâu đây? Tôi lập tức tuyệt vọng. Bỗng nhiên tôi hiểu ra, tôi dính mắc tướng của con ruồi. Nếu như lúc ấy trong tâm tôi có tướng tự ngã và con ruồi thật có, thì tôi không chỉ mãi mãi không cách nào

độ con ruồi vào niết bàn, mà chính tôi cũng sẽ bị nguyện lực nầy theo vào bể khổ chết chìm. Nếu như dính mắc tướng chúng sinh, tôi sẽ đời đời kiếp kiếp bị nguyện lực nầy theo vào trong nạn khổ luân hồi lục đạo, chúng sinh bình đẳng, đều có Tánh không viên mãn giống y như Phật. Con ruồi và tôi đều chỉ là thị hiện của Chân không, khi tôi có cái nhìn thấu suốt như vậy, con ruồi trên tường vẫn là một con côn trùng không hiểu tiếng người, nhưng tâm của tôi lại an trụ, không lại vì sự phát nguyện nầy lo lắng, thấp thỏm bất an.

Do đó đọc phẩm nầy, chúng ta nên hiểu sự thật là trên bản chất của mỗi chúng sinh có thể làm Phật, không làm thứ gì khác. Ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả chỉ là phân biệt của đầu óc chúng ta, Bồ Tát nên không chấp trước tướng phát nguyện, mới có thể giải thoát từ trong trói buộc của các tướng. Nếu không như thế, thì nguyện lực phổ độ chúng sinh chỉ có thể làm cho quí vị giẩm lên chặng đường khó khăn, quí vị cũng không cách nào từ trong pháp hữu vi ở nhân gian phổ độ chúng sinh chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Viết một bình luận