PHẨM THỨ TƯ: DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

Phục thứ, Tu Bồ Đề! Bồ tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí, sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thinh hương vị xúc pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng. Hà dĩ cố? Nhược Bồ tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng. Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Đông phương hư không khả tư lượng phủ? Phất dã, Thế tôn! Tu Bồ Đề! Nam tây bắc phương tứ duy thượng hạ hư không khả tư lượng phủ? Phất dã, Thế tôn! Tu Bồ Đề! Bồ tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị bất khả tư lượng. Tu Bồ Đề! Bồ tát đản ưng như sở giáo trụ.”

Trong phẩm nầy, đức Phật tiếp tục đối với Tu Bồ Đề nói: Bồ tát khi tu chứng Phật pháp, nên không chỗ trụ, mà thí xả tất cả. Trong lúc xả, tâm cũng không nên trụ ở trên sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nên không trụ đối với bất cứ tướng gì để thực hành bố thí. Đức Phật nói “sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp gọi là “sáu trần bên ngoài”, là tướng kiến lập đối với “mắt, tai, mũi, lữi, thân, ý”. Như mắt nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, miệng nếm vị, thân thể có xúc giác, đầu óc có khái niệm, nhận biết và định nghĩa, đó tức là pháp. Chúng sinh muốn thành tựu quả vị Phật, đương nhiên đối với vạn sự vạn vật của thế giới nầy không thể lưu luyến, cần phải xả ly. Bồ tát cần phải xả sáu căn bên trong, sáu trần bên ngoài, nhưng tâm lại không thể chấp vào tướng để xả, nếu không thì có khổ não được và mất.

Ví như, ngày xưa tôi thích vẽ tranh, thích làm thơ, từng mơ ước trở thành một họa sĩ, một nhà thơ. Sau khi tôi tu chứng Phật pháp, thì toàn bộ thời gian, tinh lực dùng để thiền định, đọc kinh điển .v.v….Tôi cho rằng tôi xả bỏ sở thích của mình, vì cầu đạo mà hy sinh rất nhiều danh lợi, dục lạc của thế gian. Nếu như nhận biết giống như tôi, Bồ tát sống giống như liệt sĩ, bởi vì có hy sinh, đây gọi là “trụ pháp bố thí”.

Lại ví như, quí vị thích một người con gái, thích nhìn bề ngoài của cô ấy, thích nghe tiếng nói của cô ấy, thích ngửi mùi nước hoa xịt trên thân thể cô ấy, thích làn da mềm mại trơn láng của cô ấy .v.v….. Nếu như có một ngày nào đó, quí vị vì thành đạo ắt phải xả bỏ chuyện tình cảm nầy, nếu như quí vị cho rằng quí vị nhận biết, thể nghiệm, cảm thọ được tất cả chân thật không hư dối, thế là quí vị đã trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc,pháp bố thí”. Nhất định quí vị sẽ rất đau khổ, quí vị sẽ cảm thấy đây là một thứ hy sinh hoặc mất đi. Kỳ thật, quí vị có ôm ấp người đẹp thật sự như vậy không? Tục ngữ nói: “Người tình trong mắt hóa Tây Thi”, mắt nhìn người yêu như Tây Thi vậy, chỉ vì quí vị dính mắc tướng, xao động tình dục, mới có cãm thấy từng bước không thể xả bỏ người nữ nầy. Nếu như có một ngày nào đó quí vị thay đổi tình cảm của mình sang người khác, thì người nữ nầy trong mắt quí vị sẽ biến thành xấu xí không chịu nổi, quí vị trông mong được người nữ ấy cách xa quí vị.

Do đó, cho dù quí vị cho rằng xa lìa những thứ quí vị yêu thích, hoặc là những thứ quí vị ghét bỏ, đều là “trụ tướng xả ly”. Chân tướng là: Chẳng phải quí vị xả ly buông bỏ cái gì cả, những cái tướng mà quí vị nhận biết ấy đều là hư vọng. Kỳ thật, trong Phật pháp tu bố thí, tu xả ly, mục đích rốt cùng chỉ là để cho quí vị thông qua xả bỏ mà có thể giải thoát từ những người, vật, sự vật nầy, không để cho tất cả những thứ nầy trong ba cõi sáu đường vây kín quí vị. Nếu như quí vị có thể hiểu rõ hư vọng của tất cả tướng, không trụ tướng xả ly, bố thí, thì tâm của quí vị sẽ an trụ trong bố thí, mới có thể đem công đức bố thí trở về Tánh không.

Trong phẩm nầy đức Phật còn nói, nếu như Bồ tát không trụ vào tướng bố thí, thì được phước đức cũng giống như hư không bốn phía không thể nghĩ bàn. Vì sao tu bố thí được công đức to lớn như thế? Bởi vì hành giả không trụ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí, bằng với bên ngoài xả bỏ sáu trần mà không chấp vào tướng của các trần, cũng bằng với bên trong xả bỏ sáu căn mà không chấp vào ngã tướng.

Ở trong Phật pháp, sáu căn và sáu trần kết hợp lại, hình thành mười tám giới. Nếu như sáu căn không, sáu trần không, thế thì mười tám giới cũng không. Như vậy, hành giả thông qua không trụ tướng bố thí đã an trụ được như trong “Tâm kinh” nói, cảnh giới của vị đại Bồ tát là “không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới, cho đến không ý thức giới, chứng nhập nhơn không, pháp không, trên căn bản ra khỏi ba cõi sáu đường, cuối cùng phá chấp pháp

thân, thì có thể tiến vào cảnh giới Chân không của Phật. Do đó, công đức đương nhiên rất lớn, không thể nghĩ bàn.

Ở nhơn gian, nhìn xem tổng quát quá trình tu hành của một vị Bồ tát, cái vui của ngũ dục thế gian không cách nào huởng thọ hết, chưa có đủ thời gian để gặt hái danh lợi, mà còn vẫn phải không ngừng tích lũy công đức, bố thí tất cả không mong cầu điều gì hết. Nếu như đối với muôn pháp cõi trần, không thể an trụ trên cái nhìn thấu suốt “Rốt ráo không” do đó hết thảy “bố thí” và “xả bỏ” đều là đền trả, cống hiến và hy sinh, Bồ tát thì rất dài lâu, không cách nào nếm được niềm vui của giải thoát, trên đường Bồ tát đạo sẽ gặp gian nan khác thường. Cho nên không có chánh kiến tánh Không, không phải là đạo giải thoát chân chánh của Bồ tát. Sở dĩ đức Phật nói: không nên trụ ở góc độ muôn pháp thế giới thật có như vậy để thực hành bố thí, xa lìa.

Đương nhiên, người thế tục khi lìa bỏ vẫn còn tham luyến tất cả hồng trần, từ đó có phiền não về được mất, còn các vị A la hán thì ngược lại, là chán ghét xa lìa tất cả mọi thứ trên thế giới nầy, bậc A la hán cho rằng sáu trần, tất cả dục lạc đều nên xả bỏ, đều là thứ chướng đạo. Như bậc A la hán cho rằng tiền là rắn độc, khiến cho con người tham lam. Nhưng hành Bồ tát đạo, khi xả bỏ tiền tài, A la hán ắt phải hiểu rõ tiền “Rốt ráo không”. Gọi tiền, gọi rắn độc, gọi tham lam, đều là danh tướng, chán ghét hay ưa thích đều là dính mắc tướng cả. Nếu như chúng sinh còn dính mắc tướng mà làm việc bố thí, các việc làm của bố thí cũng là nghiệp thiện nhơn gian, chỉ có thể được quả báo thiện, không thể ra khỏi luân hồi. Còn vị Bồ tát không dính mắc vào tướng bố thí mới có thể sau khi bố thí không mong cầu điều gì, không cầu lý giải trả báo, không mong cầu công đức và quả vị, mới có thể tâm không bị cảnh chuyển, không có phiền não được và mất, cũng mới có thể mau trở về bản lai viên mãn, Chân không Tự tánh không được không mất.

Đức Phật nói xong việc rộng độ chúng sinh, thì bắt đầu nói đến viêc xa lìa của Bồ tát. Trong toàn bộ quá trình tu chứng Phật pháp, rất xem trọng tâm xa lìa. Bởi vì, đang khi một người phát tâm thành tựu quả vị Phật, trước tiên nên sinh khởi tâm ra khỏi ba cõi sáu đường, ra khỏi luân hồi. Nhưng vì chúng sinh mới phát tâm còn có thói quen dục vọng, nên khi từ bỏ mọi thứ yêu thích và chấp trước của thế gian, trong tâm họ vẫn sẽ có sự tham ái và không dễ dàng từ bỏ. Nhưng nếu như vẫn còn tham luyến huyễn cảnh của ba cõi sáu đường, thì sẽ bị vây kín trong không gian và thời gian, không cách nào trở về đầu nguồn của sinh mệnh, không cách nào thành Phật. Do đó đại Bồ tát hiểu rõ các tướng hư vọng, nên có thể “chẳng trụ tướng mà bố thí ất cả”, đây là điểm cơ bản về tâm xa lìa của đại Bồ tát, là sự xa lìa chân chánh của Bồ tát.

Viết một bình luận