Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế tôn! Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vi vô sở đắc da?” Phật ngôn: “Như thị, như thị. Tu Bồ Đề! Ngã ư A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nãi chí vô hữu thiểu pháp khả đắc, thị danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.”
Phục thứ, Tu Bồ Đề! Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ, thị danh A nậu đa la tam miệu tam bồ đề; dĩ vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề! Sở ngôn thiện pháp giả, Như lai thuyết tức phi thiện pháp, thị danh thiện pháp.
Đại ý phẩm kinh nầy là, Tu Bồ Đề đối với đức Phật nói: “Bạch Thế tôn! Phật chứng đắc giác ngộ tối cao tối viên mãn có phải là không có gì để chứng đắc chăng?”
Đức Phật nói: “Đúng vậy, đúng như vậy. Tu Bồ Đề, Ta đối với vô thượng chánh đẳng chánh giác cho đến tất cả mọi thứ trên thế giới nầy, không có một thứ gì thật sự
chứng đắc cả. Đây mới gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác, giác ngộ cao nhất viên mãn nhất.”
Vấn đề của phẩm kinh nầy, Tu Bồ Đề cũng đã vài lần trao đổi với đức Phật. Như trong phẩm thứ mười, “Phật bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ thế nào? Như lai xưa kia ở nơi Phật Nhiên Đăng, có pháp gì để đắc không?” “Thưa Thế tôn, Không! Như lai ở nơi Phật Nhiên Đăng, thật không có pháp gì để đắc.” Đức Phật ở đây đối thoại với Tu Bồ Đề là răn bảo đệ tử không nên chấp trước pháp tướng, phá trừ tâm đệ tử có pháp có thể đắc, có quả vị có thể được.
Trong phẩm thứ mười bảy, lần thứ hai, nguyên văn là: “Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ thế nào?- Như lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có pháp đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác không?”. “- Thưa Thế tôn, không! Theo như con hiểu nghĩa lời Phật nói, Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng, Không có pháp đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.” Trọng điểm đối thoại ở đây nhằm bảo với đại chúng nghe pháp rằng, không có người thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác, là đang phá ngã tướng. Đức Phật còn nói: “- Tu Bồ Đề, nếu có pháp đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì đức Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho Ta, ông ở đời sau, sẽ được làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni….. Nếu có người nói, Như lai đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, thật không có pháp, Phật đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.” Chỗ nầy nói lập lại nhiều lần, để cho chúng sinh biết rằng, trong cảnh giới chân không vô ngã, vô nhơn.
Cho nên hiện tại trong phẩm thứ hai mươi hai, Tu Bồ Đề nói: “Thưa Thế tôn! Phật đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, là không có pháp gì chứng đắc (vô sở đắc) chăng?” Đây là một kết luận rất kỳ diệu, nói ngược lại, “Vô sở đắc” tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Phật chứng đắc, ý nghĩa là Phật chứng đắc được giác ngộ viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhận biết rằng các pháp đều hư vọng, tất cả vô sở đắc. Phật nói: “Đúng như vậy. Bởi vì vạn pháp đều không, do đó Như lai đối với giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho đến tất cả mọi thứ trên thế giới nầy, không có một chút thứ gì thật sự có thể chứng đắc được, chỉ là đem sự giác ngộ này đặt tên là Vô thượng chánh đẳng chánh giác.”
Tại đây, cuộc đối thoại giữa Tu Bồ Đề và đức Phật, ý nói với mọi người rằng, nên biết người và pháp đều không, tâm sở đắc dứt, tức là đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ở đây chúng ta nên nhớ lại mở đầu Kinh Kim Cang, duyên khởi do Tu Bồ Đề đưa ra vấn đề: “Cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm thế nào để an tâm?” Hiện tại thảo luận lại là bản thể của Vô thuợng Chánh đẳng Chánh giác. Rốt cuộc cái gì gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Cái gì gọi là Như lai? Liễu tri ý nghĩa bản thể này tức là tu chứng, thì mới có thể an tâm. Trong phẩm kinh sau, đức Phật cùng Tu Bồ Đề vẫn là tìm tòi hỏi đáp trong vấn đề nầy.
Trong phẩm thứ hai mươi ba, đức Phật nói: “Còn nữa, Tu Bồ Đề, pháp nầy bình đẳng, không có cao thấp, gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì không ngã, không nhơn, không chúng sinh, không thọ giả, tu tất cả pháp lành, thì sẽ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề, cái gọi là pháp thiện, Như lai nói tức chẳng phải pháp thiện, đó gọi là pháp thiện.”
Phẩm thứ hai mươi hai và hai mươi ba hiệp chung lại, là sự tóm tắt vô cùng thấu đáo của đức Phật về “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Bình thường chúng ta phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cầu quả vị Phật, ở đây, đức Phật bảo hết thảy các đệ tử: Khi hành giả biết rõ tất cả đều hư vọng, tâm sở đắc dứt sạch, không dính mắc bất kỳ tướng nào, chỉ có tâm vạn pháp bình đẳng, tức có thể gọi “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Mà còn bảo quí vị làm thế nào để chứng đắc, Ngài nói: “Quí vị có thể không dính mắc tất cả tướng, làm tất cả pháp lành, ngay cả tướng pháp lành cũng không nên dính mắc, thì có thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Đây là con đường tu chứng của Bồ tát không chấp tướng thiện pháp, chớ cho việc thiện nhỏ mà không làm. Tôi cho rằng hai phẩm kinh nầy đối với chúng sinh thời đại mạt pháp tu chứng Phật pháp thật sự rất là quan trọng.
Ở thời đại mạt pháp, phần lớn người học tập, tu chứng Phật pháp, không thể buông bỏ xuống được tất cả hồng trần, quả vị Phật và tất cả hồng trần đều muốn cả hai. Cầu chứng Phật pháp, thành đạo cũng trở thành phương tiện để thỏa mãn dục vọng cá nhân, cũng như để khoe khoang giá trị bản thân. Kỳ thật, mong muốn có tất cả, thể hiện giá trị bản thân là tâm lý bình thường của con người, cũng không có gì là sai. Nhưng đức Phật bảo chúng ta, vạn pháp đều là giả danh do các duyên đầy đủ sinh ra,
đều không tự tánh chân thật bất biến, quí vị chẳng có thể đắc được bất cứ thứ gì, cho dù từ trong thế tục, hay trong Phật pháp mà quí vị cho là có thật. Vả lại ngay cả tự ngã của quí vị đều là hư vọng, vốn cũng không có một thứ gì có thể hưởng thọ khoái lạc, hạnh phúc, hoặc chịu đựng sự thống khổ. Thật sự hiểu rõ điểm nầy, tâm sở đắc của quí vị sẽ dứt hết. Thật sự hiểu rõ đạo lý vạn pháp đều không, tâm bình đẳng của quí vị sẽ sinh khởi, không bị các thứ tướng sai biệt chuyển. Khi quí vị an trụ nơi vạn pháp đều không, trong cảnh giới bình đẳng, quí vị sẽ không còn biến đổi, sinh diệt, được mất với thế giới nầy nữa, tâm mới mãi mãi an trụ, không còn thống khổ, phiền não nữa, cho nên cảnh giới vô sở đắc chính là quí vị vĩnh viễn có tất cả. Còn muốn chứng nhập cảnh giới nầy, đức Phật chỉ ra một con đường đơn giản dễ đi, đó là: Không dính mắc tất cả tướng, làm tất cả pháp lành.”
Có lẽ có người đã nghe rồi, đã là tất cả đều không, vô sở đắc, thế thì ta còn cần phải làm gì nữa? Tu cái gì? Tất cả đều không là lời Phật nói. Chúng ta chỉ nghe được câu nói nầy, “tâm sở đắc” của chúng ta còn chưa hết, vạn pháp đối với chúng ta thật sự còn đầy sức ảnh hưởng. Có lẽ quí vị cảm thấy mình không còn quan tâm, đối với mọi thứ không còn hứng thú, không tình cảm mãnh liệt, đó chẳng phải là tâm vô sở đắc Phật nói, mà là vô duyên, vô vị. Muốn chứng nhập tâm vô sở đắc, tâm bình đẳng của Phật nói, cần phải giống Phật nói “- Tu tất cả pháp lành, dụng tâm không dính mắc tướng”. Thế nào là tâm không dính mắc tướng? Biết rằng tất cả đều là hư vọng, từ đó không bị trong ngoài thân tâm tất cả cảnh chuyển, tâm có thể an trụ, tâm như vậy mới là tâm không dính mắc tướng. Hành giả an trụ trong cảnh giới nầy lâu ngày, tâm sở đắc mới dứt hết. Nhất là sau khi tướng trí tuệ và tướng Phật cuối cùng được phá hết, mới
cảm thấy mình và thế giới vạn pháp bình đẳng, mới biết tâm, Phật, chúng sinh ba thứ không khác biệt, tâm bình đẳng như như bất động mới thật sự sinh khởi.
Cũng có những người đồng tu nói, đã tất cả đều không, vô sở đắc, vô sở thất, hành pháp ác có thể thành đạo không? Không thể. Người ấy chín mươi tám phần trăm không thể thành. Bởi vì hành pháp ác, nghịch duyên rất nhiều, trên đường tu hành chướng ngại rất nhiều; thứ nữa, người tu pháp ác đều là người tự tư, tự ngã cực đoan. Vì sao họ muốn làm việc ác, như giết người phóng hỏa, làm tổn hại người khác? Nhìn từ góc độ nhơn đạo, thông thường là người thỏa mãn ham muốn cá nhân, một người có dục vọng cá nhân nặng như vậy, làm sao có thể thành đạo, làm sao có thể chứng đắc từ bi và trí tuệ viên mãn được?
Vẫn còn có hai loại người có thể, một là đại Bồ tát tới thị hiện, vì khiến cho chúng sinh phá tướng pháp thiện, không muốn chấp trước pháp thiện. Thiện ác cũng chỉ là nhân quả của nghiệp cá nhân hay cộng nghiệp, là do loài người định nghĩa. Trong pháp giới, từ chúng sinh luân hồi đời đời kiếp kiếp mà xem, không có tiêu chuẩn thiện ác tuyệt đối. Những vị đại Bồ tát nầy là đại hùng đại lực, các ngài gánh chịu tiếng xấu vạn năm, thậm chí còn bị quả báo chúng sinh mắng chửi để được thành tựu vài người. Những vị Bồ tát nầy rất ít thấy, chúng sinh cũng không cách nào hiểu biết và lý giải được. Còn có một loại ma vương cấp bậc cao, họ cũng có thể rõ biết tất cả đều không,
chẳng dính mắc, giết người như cắt cỏ, ở trong lòng không lưu lại một mảy may dấu vết. Nhưng ngã mạn ma vương rất nặng, còn có “ngã không” chưa phá được, nên quả ác khi chín muồi, quả báo sẽ rất thê thảm. Nhưng nếu như họ có thể một niệm hối cải, sinh khởi từ bi, buông dao đồ tể, có thể lập tức thành Phật.
Do đó, nếu chúng ta không phải là hai loại người trên đây, thì phải cần dùng không ngã, không nhơn, không chúng sinh, không thọ giả, làm tất cả pháp lành, mà còn phải không dính mắc tướng pháp lành. Phật nói: “Sở dĩ nói pháp thiện, tức chẳng phải pháp thiện, đó gọi là pháp thiện.” Bởi vì hết thảy pháp thiện cũng chẳng qua là con người căn cứ tiêu chuẩn đạo đức thiện ác của nhơn đạo xác lập, trong đó nhân quả không có được bao nhiêu người hiểu biết, mà còn trong cảnh chân không Như lai, không một pháp có thể sinh, tất cả đều là duyên khởi duyên diệt, đồng như huyễn hóa.