Phần I – Hành trình tu đạo của tôi [Tập 7]

Sau khi trở về từ Phổ Đà Sơn, trong gia đình mọi sự đều yên tĩnh, mỗi người trở về vị trí của mình. Tôi cảm nhận được rằng điều thu hoạch lớn nhất là lòng rộng mở hơn, tâm thái ngày càng bình hòa. Trong thời gian này, tôi bắt đầu đọc rất nhiều kinh điển Phật giáo; bất cứ tác phẩm Phật học nào có thể mua hoặc mượn được, tôi đều đọc với tâm trạng như đói khát. Tôi đọc ‘Kinh Kim Cang’, ‘Kinh Diệu Pháp Liên Hoa’, ‘Kinh Viên Giác’, ‘Kinh Lăng Nghiêm’, ‘Kinh Lăng Già’, ‘Kinh Đại Niết Bàn’, ‘Tán Kinh Lục Tổ’, ‘Ngũ Đăng Hội Nguyên’, cùng với các sách giảng của Nam Hoài Cẩn, Nguyên Âm Lão Nhân, một số giáo huấn của các Rinpoche Tây Tạng, và cả một số kinh điển Nho giáo và Đạo giáo. Tôi không thể hiểu hết ý nghĩa từng lời trong kinh, cũng hoàn toàn không nhớ được hết. Nếu ai hỏi tôi Kinh Lăng Nghiêm nói gì, có lẽ tôi sẽ kể lại nội dung Kinh Lăng Già, chỉ có chính tôi mới hiểu mình đã lĩnh hội được gì. Khi đọc kinh, lòng tôi tràn đầy vui sướng, cảm giác ấy tựa như một kẻ trộm lén chiếm được bảo vật vô giá… Và chỉ cần trong mỗi quyển kinh có một câu phù hợp với tâm thái lúc bấy giờ, giải quyết được nỗi băn khoăn nơi tâm, tôi liền cảm giác như một nút thắt trong lòng bỗng được tháo gỡ, lòng cảm nhận như hoa nở rộ. Cảm giác ấy như chợt khai mở mọi uẩn khúc, trí tuệ sáng rỡ chiếu soi toàn tâm. Tôi say đắm giữa biển cả mênh mông của kinh điển Phật pháp, lòng lưu luyến chẳng muốn rời.

Trong khoảng thời gian ấy, thân tâm tôi bắt đầu có những phản ứng lạ. Trước hết là cơn đau đầu dữ dội, khi nhìn nội quang mình, toàn bộ mạch đạo trong đầu đỏ rực như những ống thép nung nóng. Đau đến mức như mắc bệnh viêm màng não cấp, hít thở sâu hay quay đầu nhẹ cũng khiến nhăn mặt, khó chịu không chịu nổi. Tôi nằm yên trên giường, bất động, và thấy trên đỉnh đầu mình hé mở một đóa liên hoa thịt; mỗi khi một cánh hoa bung ra, cơn đau như xuyên thấu tâm can. Khi đóa hoa cuối cùng nở rộ, các khí mạch trên đỉnh đầu lõm xuống, hóa thành như một bộ thu radar, sẵn sàng đón nhận dòng năng lượng tuệ giác.

Quá trình này kéo dài khoảng nửa tháng. Vì Sư phụ đã dạy rằng khi khí mạch đang chuyển hóa thì đừng bận tâm, nên tôi không hề kinh ngạc hay sợ hãi.

Hiện tượng thứ hai là tôi thỉnh thoảng không muốn ăn cơm, chỉ uống nước, thỉnh thoảng ăn chút trái cây. Có lúc kéo dài bảy ngày, có lúc nửa tháng. Dù sao, tôi cũng thuận theo tự nhiên: đói thì ăn, không đói thì thôi. Tôi không để tâm nhiều đến những biến chuyển nơi thân thể mình.

Lúc này, có những người bạn hữu tin Phật hoặc luyện khí công thường ghé thăm tôi. Ngoài việc tiếp đãi nhiệt thành, tôi còn say sưa trao đổi với họ về các lý thuyết Phật pháp, cố gắng truyền đạt những quan điểm mà bản thân mình còn chưa thật tròn đầy, đồng thời hết sức khuyến thỉnh họ tin Phật và tu tập Phật Pháp, trong suốt quá trình trò chuyện hầu như không để họ có khoảng trống nào để chen lời. Một số người vốn không mấy hứng thú với Phật pháp, thật ra họ đang thực hành ‘Nhẫn nhục giới’, họ hầu hết kiên nhẫn nhẫn nhục, để mặc tôi từng lượt truyền pháp vào tai họ. Chỉ đến khi đến giờ cơm trưa hay đã quá khuya, họ mới lễ phép cáo từ. Tôi lại nấn ná níu giữ, thậm chí thỉnh thoảng trao thêm cho họ vài quyển kinh điển mà tôi cho là vô giá, dặn dò: ‘Sách này thật quý, tuyệt đối đừng làm mất; lần sau đến, chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận.

Tôi không rõ những bạn hữu ấy đã nhẫn nhịn thế nào trước sự nhiệt thành có phần quá mức của tôi, mà vẫn không cắt đứt quan hệ. Kết quả là, gần như toàn bộ bạn hữu tôi đều khởi lòng tin Phật hoặc nảy sinh hứng thú với thiền định.

Tuy tôi nghe lời Sư phụ và cố gắng không sử dụng thần thông, nhưng đôi khi với một số thiện hữu tri thức tôi vẫn ứng dụng một chút. Chẳng hạn như xem nội tạng của họ có vấn đề gì, hoặc xem vài chuyện thuộc về tiền kiếp của họ. Tôi nhớ có lần có một bà dì ghé nhà chơi. Bà ấy nửa đùa nửa thật nhờ tôi xem thử phụ khoa của bà có vấn đề gì không. Tôi quan sát tử cung của bà và phát hiện bên trong có một khối u màu đen, liền nói ngay: “Trong tử cung của dì có một khối u ác tính.” Nói xong tôi liền hối hận, sao mình lại hấp tấp như vậy chứ! Dựa vào kinh nghiệm khi tôi quan sát bệnh lý, thường thì các khối u hay nang trong cơ thể con người có hai màu chủ đạo: thiên về đen hoặc thiên về đỏ. Màu đen thường thiên về bệnh ác tính, màu đỏ thiên về lành tính. Nhưng theo thời gian tu tập và hành nghề, tôi nhận thấy có những khối u lành tính, nếu tồn tại lâu và cơ thể người bệnh khí huyết quá suy yếu, cũng có thể trong một thời gian ngắn phát ra ánh sáng đen tối. Sau một thời gian điều dưỡng, dùng thuốc và điều hòa khí huyết, ánh sáng của khối u sẽ dần chuyển sang màu đỏ và khối u cũng từ từ co lại.

Bà dì kia nghe tôi nói liền biến sắc và bật khóc. Tôi không ngờ bà lại nhạy cảm đến vậy, vội vàng an ủi rằng đôi khi tôi cũng không đoán chính xác, bà có thể đến bệnh viện kiểm tra lại, và nếu dự đoán của tôi đúng thì việc phát hiện sớm cũng là điều tốt. Bà không đáp lại lời an ủi, khóc mà ra về, còn tôi thì thất vọng ngồi lặng lẽ tại nhà. Tôi biết rằng trước đây, khi quan sát một số bệnh nhân, những bệnh tình mà tôi vô tình nhìn thấy hầu hết đều cho kết quả rất chính xác. Trong lòng tôi cảm thấy thương xót cho bà ta, đồng thời tự nhủ sau này sẽ không còn xem bệnh cho người khác nữa, bởi dù phát hiện ra bệnh tình, tôi cũng không thể trực tiếp chữa trị, chỉ làm tăng thêm nỗi khổ cho họ. Nhưng dường như trong tôi vẫn vang vọng lương tâm của một hành giả: nếu thấy người bệnh mà không nhắc nhở, lòng sẽ cảm thấy bất an. Tôi ngồi lặng một mình nửa ngày, trong tâm tưởng: “Giá mà mình là một vị y sĩ thiện tâm.” Như các bậc y thánh xưa kia — Lý Thời Trân, Hoa Đà, Biển Thước — cứu người chữa bệnh thật là đáng quý biết bao. Tôi không ngờ, điều mong ước ấy của tôi sớm muộn cũng được thực hiện!

Một buổi tối, khi tôi đang ngồi thiền, Sư phụ nói sẽ dẫn tôi đi gặp một vị thầy. Trong thiền định, đi được một lát, Sư phụ dẫn tôi đến trước một ngôi mộ, trên bia mộ ghi “Chi Mộ Lý Thời Trân”. Sư phụ bảo tôi hướng về mộ mà lễ bái. Tôi chưa kịp suy nghĩ gì đã cúi lễ trước bia mộ. Bỗng ngôi mộ như nổ tung, một vị nhân xuất hiện từ bên trong, nắm tay tôi và kêu: “Ta đã chờ ngươi từ lâu! Ta sẽ dẫn ngươi nhận biết thảo dược.” Tôi còn chưa phản ứng kịp thì đã được ông dẫn đến một ngọn núi đầy các loại thảo dược. Ông hân hoan giới thiệu từng loại thảo dược một, nói rất nhanh, tôi cố gắng ghi nhớ từng tên…

Sau khi xuất định, tôi hồi ức lại trải nghiệm trong thiền định, lòng đầy băn khoăn: Phải chăng lúc nãy mình đã rơi vào trạng thái hôn trầm, ngủ mê và chỉ là một giấc mơ? Lý Thời Trân đã gần một nghìn năm mà vẫn chưa tái sinh sao? Nhưng trí óc tôi lại ghi nhớ rõ ràng tên và hình dáng của vài loại thảo dược. Tôi đã vẽ sơ lược chúng lên giấy, định ngày mai sẽ hỏi em trai mình.

Ngày hôm sau, sau khi nghe tôi kể, em trai tôi xem qua những hình vẽ và tên thuốc do tôi vẽ và nói: “Tôi tra thử trong Bản thảo cương mục xem sao.” Quả nhiên, cậu em tìm thấy trong sách những loại thuốc mà tôi đã nêu, và hình vẽ bên cạnh cũng gần như trùng khớp với những gì tôi vẽ. Cậu bảo rằng những loại thảo dược này ít khi sử dụng, nên cũng không quen thuộc với tên gọi của chúng. Trong thiền định, Sư phụ bảo tôi: “Ngươi có thể tôn Lý Thời Trân làm thầy, để ông truyền dạy kiến thức y học cổ truyền cho ngươi.” Kể từ đó, Lý Thời Trân trở thành vị sư phụ thứ hai của tôi. Sau này, lại có một vị sư phụ họ Hoàng đến, chỉ dạy tôi về châm cứu. Tôi lại như trước, mỗi ngày sau khi nhập định, vừa nghe Lý Thời Trân giảng lý thuyết y học cổ truyền, vừa nghe Sư phụ Hoàng dạy về châm cứu. Các vị sư phụ giảng dạy rất nhanh, lại minh họa bằng hình ảnh sinh động. Khi Lý Thời Trân giảng về một loại thảo dược, cây thuốc ấy hiện ra sống động trước mắt tôi. Nếu tôi chưa nhìn rõ, cây thuốc lập tức phóng to hàng nghìn lần. Khi Lý Thời Trân giảng về dược tính thuộc hàn, vị chua. Lúc đó, trong dạ dày tôi đồng thời xuất hiện cảm giác hàn và chua. Khi giảng về kinh lạc mà dược vật đi qua, trước mắt tôi hiện ra cơ thể người trong suốt, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng cách khí mạch vận hành theo từng phối ngũ và liều lượng khác nhau của dược liệu…

Khi Sư phụ Hoàng giảng về châm cứu, trước mắt tôi cũng xuất hiện một cơ thể con người trong suốt. Khí huyết trong thân thể ấy vận hành lưu thông; các đường kinh lạc được phân bổ  nối kết bằng những luồng quang tối với nhau, còn các huyệt vị thì sáng rực, chớp lên thành những điểm sáng lấp lánh. Lý Thời Trân và Sư phụ Hoàng trao đổi với tôi thì không được nhẹ nhàng như Sư phụ; chúng tôi thường không hiểu rõ ý nhau muốn diễn đạt điều gì. Trong khi nghe họ giảng, đầu óc tôi trống rỗng; sau khi xuất định, tôi chỉ còn nhớ được một vài phương pháp và hình ảnh họ minh họa, còn nội dung chi tiết thì ít nhớ. Tôi hơi lo lắng hỏi Sư phụ: ‘Như vậy học y học cổ truyền, khi xuất định con sẽ không dùng được.’ Sư phụ bảo: ‘Không sao, những gì họ giảng đã được lập trình và nhập vào tâm trí ngươi, khi cần sử dụng tự nhiên sẽ tuôn ra.’ Tôi không còn lo lắng, chỉ mỗi ngày nhập định để nghe giảng.

Viết một bình luận