Phần I – Hành trình tu đạo của tôi [Tập 6]

Quả nhiên, chẳng bao lâu, Sư phụ thông báo với tôi: vào ngày… tháng… con hãy lên Phổ Đà Sơn, ở đó khoảng hơn 20 ngày rồi mau chóng trở về. Khi nhận được thông báo của Sư phụ, tôi có chút băn khoăn: thứ nhất, đi xa lâu như vậy, chồng chắc chắn sẽ không đồng ý. Mặc dù con đã gần 2 tuổi, nhưng vẫn còn nhỏ, để con cho một người bảo mẫu chăm sóc tôi cũng không yên tâm; thứ hai, vấn đề kinh tế. Phổ Đà Sơn cách Sơn Tây rất xa, Sư phụ còn dặn đi bằng máy bay, điều này cần một khoản tiền, mà tôi thì hoàn toàn không có.

Ở đây, tôi phải nhắc đến em trai tôi.

Chúng tôi có bốn anh chị em, tôi đứng thứ ba. Mẹ là giáo viên, bố là một cán bộ nhà nước bình thường; chị cả và anh hai đều là công chức của chính quyền thành phố. Em trai út của tôi tốt nghiệp chuyên ngành y học cổ truyền tại một trường y, sau đó được phân công làm việc tại nhà máy dược của thành phố. Nửa năm sau, em ấy xin nghỉ và tự mở một phòng khám cá nhân trong thành phố. Em rất hòa nhã, đối xử với mọi người rất tốt. Mặc dù không có tiếng tăm gì, nhưng vẫn có nhiều bệnh nhân tìm đến phòng khám của em. Do thời gian làm việc khá chủ động, em thường luyện một số nội công cứng, tập Thái Cực Quyền, đồng thời đọc kinh Phật và tu thiền định vào lúc rảnh rỗi. Tôi kể cho em nghe về những cảnh giới xuất hiện sau khi tôi bắt đầu tọa thiền, về một chuỗi trải nghiệm kỳ lạ. Em nghe xong không hề quan tâm đến những cảnh giới ấy, mà chỉ bình tĩnh hỏi tôi: ‘Sư phụ đã dạy chị điều gì?’ Tôi nói rằng tôi chỉ có sự cảm ngộ trong tâm mà chưa thể diễn đạt thành lời. Em bảo tôi cứ giản lược mà nói ra những điều mình cảm nhận. Sau khi nghe xong, em nói: ‘Tuy em chưa thể viên dung thấu hiểu Phật kinh, nhưng xem ra giáo pháp mà Sư phụ giảng không trái với giáo nghĩa kinh điển, nên hẳn không phải là ma biến hiện.’ Tôi thầm nghĩ: xưa nay tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ma có thể hóa làm sa-môn để lừa mình; mà ma là gì, Phật lại là gì? Lúc ấy tôi đọc kinh Phật còn ít, nên cũng không suy nghĩ nhiều theo hướng đó.

Nhưng sự khẳng định của em trai khiến tôi như được uống một viên ‘định tâm hoàn’; ít nhất anh tin rằng những điều tôi nói là thật, và còn nghiêm túc suy xét. Từ đó về sau, trong suốt quá trình tu chứng, tôi thường tìm em trai để trò chuyện. Có lúc khi tôi vừa kể sơ qua một hiện tượng xảy ra trong thiền định, em đã nối ngay phần còn lại của cảnh ấy — điều này khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Em nói rằng em nghĩ cảnh giới ấy hẳn là như vậy. Thế nhưng khi tự mình tọa thiền, em lại chẳng thấy gì, chỉ một mảng tối đen, ngay cả chút ánh sáng cũng không có, vậy mà em vẫn hiểu được cảnh giới của tôi.

Em thường hay nói tôi: ‘Sao mà chị còn giữ nhiều tập khí của một phụ nữ nhỏ nhặt như vậy.’ Tôi thì nói lại em: ‘Ngồi thiền bao nhiêu năm rồi, trông như khúc gỗ khô, chẳng có chút linh khí nào cả’.

Dĩ nhiên, lần này Sư phụ bảo tôi lên Phổ Đà Sơn, người đầu tiên tôi tìm để tính cách giải quyết chính là em ấy.

Rất nhanh, em tôi đã nghĩ ra cách: về công việc của chồng tôi sẽ do người thân trong gia đình cùng chia sẻ nhau, ban ngày con tôi được bà ngoại và cô cả luân phiên trông nom, Buổi tối, vì cơ quan em dâu ở gần nhà tôi và em ấy vẫn chưa kết hôn, nên em sẽ ở lại nhà tôi để tiện chăm con. Về kinh phí cho chuyến đi, em tôi dự định bán căn nhà mới cưới. Em và em dâu sẽ tiếp tục sống cùng bố mẹ tôi, rồi em sẽ cùng tôi lên Phổ Đà Sơn.

Tôi cũng không nghĩ ra cách nào tốt hơn, đành phải chia nhau ra hành động. Ngoại trừ chị cả rất vui vẻ đồng ý, chẳng ai tán thành ý tưởng của chúng tôi. Bố mẹ tuy trong lòng không phản đối việc tôi tu hành, nhưng cho rằng ở nhà ăn chay, cúng Phật, đọc kinh là hoàn toàn đủ, cớ sao phải xa lìa nhà cửa mà tu hành! Mẹ lại còn lo rằng việc tu hành sẽ khiến gia đình tôi tan vỡ. Nhưng tôi và em trai kiên quyết, không ngừng giải thích và thuyết phục mọi người. Ngày xuất phát gần kề, căn nhà cũng đã bán, mọi việc đã định sẵn.

Đêm trước ngày lên đường, chồng tôi uống say, đến rất khuya mới về nhà. Sáng hôm sau khi chúng tôi chuẩn bị xuất phát, anh bất ngờ trở về từ cơ quan, không nói gì, chỉ giúp tôi xách vali xuống dưới, mắt đỏ hoe. Lòng tôi như mở tung một bình vị ngũ, cảm giác hỗn độn không nói nên lời. Sau khi đến thăm và tạm biệt song thân, tôi bắt đầu chuyến đi đầu tiên lên núi — đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ-tát, Phổ Đà Sơn.

Chúng tôi đi máy bay đến Ninh Ba, ở lại Ninh Ba một đêm rồi mới đi tàu; khi tàu đến Phổ Đà Sơn, chúng tôi trú tại một khách sạn gần biển. Trong thiền định, tôi vô số lần thấy Nam Hải, thấy Quán Thế Âm Bồ-tát mặc áo trắng, và nghe âm thanh sóng biển dồn dập như sấm rền. Ngày hôm nay, cuối cùng tôi được trực tiếp ngồi bên bờ Nam Hải. Nhìn ra biển cả mênh mông, lắng nghe tiếng sóng dâng trào và rút lui, lòng tôi trở nên rộng rãi và thanh tịnh, bao muộn phiền, bất an và mệt mỏi nhiều ngày liền đều bị sóng biển cuốn trôi sạch sẽ.

Ngày hôm sau, chúng tôi chuẩn bị lên núi Lô Cát, khi tới bến cảng, do biển động mạnh, tất cả các tàu đều không ra khơi. Chúng tôi đứng chờ trên bến cảng suốt thời gian dài, sau đó có một chiếc thuyền nhỏ cá nhân đồng ý ra khơi, nhưng giá thuyền tăng thêm 10 tệ. Chúng tôi cùng hơn mười khách du lịch thuê riêng chiếc thuyền này. Thuyền rất nhỏ, hơn mười người chúng tôi phải chen chúc ngồi trên sàn thuyền.

Thuyền bắt đầu chạy, sóng to gió lớn. Lần đầu tiên tôi đi loại thuyền nhỏ này, trong lòng vừa hứng khởi vừa tò mò, hoàn toàn không nghĩ đến bất cứ nguy hiểm nào. Những người khác trên thuyền có lẽ đều là Phật tử địa phương, hầu hết đều cầm tràng hạt, đeo túi hương, và ngay khi lên thuyền đã niệm ‘Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát’. Tôi nghĩ thầm: Quả đúng là đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ-tát, người nơi đây tin Quán Thế Âm thật là thành kính.

Khi thuyền tiến ra giữa biển, sóng gió bỗng trở nên mạnh hơn, thuyền gỗ lắc lư dữ dội, và để tránh sóng tràn vào khoang, cửa vào thuyền được bịt lại bằng một tấm rèm dày. Bên trong khoang tối om và ngột ngạt, tôi cảm thấy thuyền như mất phương hướng, dường như đang xoay vòng tại chỗ, càng lúc càng rung lắc mạnh. Mọi người trong khoang bị lắc qua lắc lại, chen chúc thành một đám. Có người bắt đầu nôn, một đứa trẻ khuôn mặt thanh tú đang niệm Phật nhanh chóng lấy từ túi hương ra một xấp túi nhựa, phát cho mọi người. Quả là cứu mạng! Mọi người gần như chưa kịp nói lời cảm ơn đã cắm miệng vào túi nhựa mà nôn thốc nôn tháo.

Tôi cảm thấy như ruột gan mình sắp trào ra ngoài. Khi mọi người đều nôn đến mức trời đất quay cuồng, con thuyền cuối cùng cũng từ từ dừng lại, và cuối cùng cũng đến nơi rồi!

Vừa rời khỏi thuyền, trời liền đổ mưa. Một vài người đồng hành còn đang tranh cãi với chủ thuyền về chuyện gì đó, còn tôi và em trai thì vội theo chỉ dẫn trên bản đồ mà tìm đến ngôi tự viện. Đi được hơn mười phút, cả hai chúng tôi đều cảm thấy có điều không ổn. Em tôi bèn hỏi thăm một người bán hàng ven đường. Người ấy nói: nơi đây không phải là Lạc Già Sơn, muốn đến Lạc Già Sơn vẫn phải lên thuyền đi tiếp.

Hai chị em chúng tôi ngước nhìn mặt biển mờ ảo trong khói sóng và mưa bụi, lúc ấy mới như từ cơn mộng tỉnh dậy. Thì ra con thuyền đi được nửa đường đã phải quay về bến vì gió lớn sóng dữ. Vốn không quen thuộc hải đảo, chúng tôi đâu hay rằng nơi mình vừa bước xuống lại chính là chỗ đã bước lên lúc trước. Hai chị em nhìn nhau! rồi không kìm được mà bật cười.…

Hai ngày sau, khi gió yên sóng lặng, chị em chúng tôi mới được thuận duyên ngồi ca nô hướng thẳng về Lạc Già Sơn. Đêm ấy trở về khách sạn, tôi ngủ một giấc thật sâu. Nào ngờ nửa đêm bỗng giật mình tỉnh giấc — trước mắt tôi, cả căn phòng đang được bao phủ bởi một luồng bạch quang chói lòa. Ngay giữa phòng, một tôn tượng Bạch Y Quán Thế Âm hiện thân đứng lặng! Tượng Ngài cao lớn trang nghiêm, Đỉnh đầu Ngài cao vươn tận nóc phòng. Đây là lần đầu tiên tôi thấy được tướng hình của Bồ Tát mà không hề đang nhập định. Tôi hoảng hốt nhìn sang chiếc giường bên cạnh, nơi em trai tôi đang ngủ. Nó ngủ say, dường như chẳng hay biết gì. Tôi không dám gọi, chỉ ngẩn ngơ nhìn chăm chú vào tôn tượng. Một cảm giác nghẹn nơi lồng ngực khiến tôi tưởng như sắp không thở nổi. Trong gian phòng tĩnh lặng đến mức tuyệt đối ấy, tôi nghe rõ từng nhịp thở và từng tiếng đập của trái tim mình.

Bỗng nhiên tôn tượng ấy biến mất, căn phòng trở lại tối đen như mực, chỉ còn tiếng sóng biển ngoài kia vọng vào từng hồi. Trong lòng tôi cũng không khởi nhiều ý niệm, chỉ cảm thấy đôi chút kỳ lạ — chẳng rõ nhân duyên gì mà Bồ Tát Quán Âm lại hiện tướng như vậy. Rồi tôi dần dần chìm vào giấc ngủ trở lại.

Chuyến hành hương Phổ Đà Sơn xem như đã viên mãn. Ngoài việc đảnh lễ tất cả các tự viện trên đảo theo lời Sư phụ chỉ dạy, thời gian còn lại tôi đều dùng để tĩnh tọa, tu tập thiền định. Trong suốt những ngày ở Phổ Đà Sơn, tôi không cảm nhận được khí mạch thân thể có sự biến chuyển nào đặc biệt. Nhân đây, tôi muốn nói thêm một điều: khoảng hơn mười tuổi, đôi khi tôi bỗng cảm thấy thân mình như to ra hoặc nhỏ lại — chỉ là một cảm giác kỳ lạ thoáng qua, tôi cũng chẳng cho đó là điều gì khác thường, và chưa bao giờ nói với cha mẹ. Lớn tuổi hơn, thỉnh thoảng khi đang ăn cơm cùng một bàn người, trong lúc lơ đãng, trước mắt tôi mọi người bỗng hóa thành những hình tướng khác lạ: có kẻ như chó, mèo, lợn; có người phía sau còn thấp thoáng chiếc đuôi đong đưa trên ghế. Tôi lại chẳng hề kinh sợ, chỉ thường khởi một niệm cảm khái: đời sống quả thật nhiệm mầu, chỉ cần mắt hoa lên một cái, cảnh giới trước mặt liền đổi khác.

Sau một thời gian được Sư phụ hướng dẫn tu thiền định, tôi bỗng nhiên có thể nhìn thấu xương cốt và tạng phủ trong thân người. Tuy nhiên, khả năng ấy không được ổn định: có lúc muốn nhìn thì chẳng thấy, lúc không muốn thấy thì trước mắt lại toàn là tim gan tỳ phế của người khác, vô cùng phiền não. Sư phụ dạy rằng: đó chính là ‘Thiên nhãn thông’. Năng lượng thiên nhãn của tôi còn yếu nên mới bất định như vậy, rồi sau này sẽ dần dần trở nên ổn định.

Quả nhiên, khi định lực tăng trưởng, tôi dần có thể tự tại điều phục chính mình: không muốn thấy thì thiên mục liền khép lại. Sau khi Sư phụ giảng giải về ngũ nhãn lục thông, tôi cũng bình thản chấp nhận những hiện tượng xảy ra nơi thân tâm. Nói về những vấn đề thần thông, Sư phụ dạy: ‘Chớ nên chơi đùa với thần thông. Mạch đạo của con còn chưa hoàn toàn khai thông, càng chưa nói đến sự chuyển hóa viên mãn; vận dụng thần thông sẽ hao tổn năng lượng rất lớn, khiến khó tụ hội khí lực để tiến sâu vào sự chuyển hóa sinh lý. Hơn nữa, chơi thần thông dễ cảm chiêu ngoại ma, can thiệp vào nhân quả của người khác.’ Tôi hỏi: ‘Trong kinh chẳng phải nhiều vị Bồ Tát đều du hí thần thông sao?’ Sư phụ mỉm cười: ‘Nếu con thật sự chứng được tánh Không, muốn vận dụng thế nào cũng đều vô ngại. Còn những gì con có hiện nay chưa thể gọi là thần thông, chỉ là chút công năng nhỏ nhoi.’ Khi ấy tôi vẫn cho rằng có thần thông cũng chẳng phải chuyện xấu; dẫu chỉ là tiểu công năng, nó cũng dễ khiến mình phát khởi chánh tín đối với Phật pháp, và việc tu hành khi thấy được cảnh giới thì lại càng tăng trưởng niềm tin, bớt đi sự khô khan.

Nhưng mọi sự đều có lợi có hại, sở hữu tiểu thần thông càng dễ rơi vào tà đạo. Bởi sự buông bỏ tham, sân, si, kiêu mạn, nghi ngờ nơi tâm không phải thần thông nào cũng giúp được. Nếu cuối cùng chúng ta không đoạn trừ tập khí để khai mở trí huệ, cho dù thần thông có lớn đến đâu cũng không thể đạt được tự tại nơi thân tâm, và cũng không thể tùy ý du hí thần thông theo ý mình.

Viết một bình luận