Bây giờ chúng ta hãy cùng ôn lại một cách ngắn gọn Kinh Kim Cang nói về điều gì?
Đức Phật thuyết giảng Kinh Kim Cang nhân duyên từ một vị đại đệ tử của Phật là Tu Bồ Đề nêu ra một câu hỏi, đó là: “Người thiện nam, người thiện nữ mới phát tâm cầu tu chứng quả vị Phật, nên an trụ trên tri kiến Phật như thế nào? Nên hàng phục phiền não, vọng niệm trong tâm như thế nào?”
Đức Phật khai thị vài điểm sau đây, bởi vì mấy điểm nầy là vấn đề các đệ tử ngay hiện tiền tu chứng ắt phải đối diện, cũng dễ chấp trước nhất, là chỗ dễ sai lầm nhất về tri kiến.
Điểm thứ nhất, đầu tiên phát nguyện phổ độ chúng sinh.
Bởi vì khi một người muốn phát nguyện thành tựu quả vị Phật, phải nên biết tự mình là muốn quay về nguồn gốc của sự sống, mà đứng trên nguồn cội của sự sống trông thấy “tâm” của chúng ta bao hàm vũ trụ vạn vật. Cho nên đồng thời một người phát nguyện thành tựu quả vị Phật, cũng là mong muốn phát nguyện rộng độ tất cả chúng sinh hữu tình trong vũ trụ, cả bên trong lẫn bên ngoài đều như nhau. Do đó đứng trên quả vị Phật nhìn xem, Bồ tát đại thừa phát tâm cầu quả vị Phật, trước tiên phải phát nguyện bình đẳng rộng độ tất cả chúng sinh hữu tình ba cõi sáu đường, vì muốn cứu độ chúng sinh thoát khỏi luân hồi để thành Phật, không thể chỉ vì chính mình. Phát tâm nầy là phương pháp tu chứng, mục đích là từ phát tâm khai ngộ rồi phải phá chấp
ngã. Nếu như chúng ta không cách nào hiểu rõ tâm của mình bao hàm tất cả chúng sinh, thế thì thử nghĩ, tâm chúng ta có khi từ bi giống như Bồ tát; có lúc phẩn nộ, sân hận, tật đố, giống như A tu la; có đôi khi lại hao khát sự thuần khiết, thanh tịnh, hoàn mỹ như người trời; có lúc bị dục vọng nuốt trọn thân tâm, chẳng còn có bất cứ ti tiện nào làm người, tâm chạy theo dục vọng giống như súc sinh; khi thân tâm đau khổ giống như chúng sinh trong cõi địa ngục; có lúc khát khao thức ăn đối hoặc tình cảm, giống như chúng sinh trong cõi ngạ quỷ; có lúc đối với danh, lợi, tình chấp trước tham lam, đau khổ không chịu nổi cũng không biết xả bỏ buông tay giống như con người; khi trụ trong thiền duyệt hưởng thụ cảnh giới ánh sáng, giống thiên nhơn cõi trời Sắc giới; trụ trong tứ không định, giống như thiên nhơn cõi trời vô Sắc giới. Do đó quán tâm thức của chính chúng ta, có đầy đủ hiện tượng của tất cả chúng sinh ba cõi sáu đường. Cho nên độ mình ra khỏi luân hồi, độ mình thành Phật, cũng đồng nghĩa với tâm độ chúng sinh ba cõi sáu đường.
Do đó vừa mở đầu đức Phật nói: “Tất cả các loài chúng sinh, như noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hoá sinh, như loài có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, hoặc chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, Ta đều khiến (cho họ) nhập vào vô dư niết bàn mà diệt độ họ.” Trong tâm thức chúng ta, hàm chứa tất cả tâm thức chúng sinh hữu tình, chúng ta thành Phật, kỳ thật là khiến cho tất cả chúng sinh nhập vào vô dư niết bàn.
Chúng sinh vô lượng vô biên, hiện tượng của tâm thức chúng ta cũng không có cảnh ngừng nghỉ. Hiện tại chúng ta muốn quay về khởi nguồn của sinh mạng, làm thế nào an trụ trên đường tu hành, không có phiền não, vọng tâm, tạp niệm? Trong kinh văn đức Phật bảo chúng ta, chúng ta chỉ cần không dính mắc tất cả tướng trong ba cõi sáu đường, thì có thể an trụ, thì có thể không có phiền não chướng ngại và thuận lợi quay về, thì có thể thấy được tự tánh Như lai của chúng ta. Nhưng thói quen nhiều đời nhiều kiếp, dục vọng lôi kéo, khiến chúng ta sinh khởi rất nhiều phân biệt, nhận biết, chấp trước, chủng tử trong “tâm thức” chúng sinh sáu nẻo xúc duyên liền nảy mầm, ra hoa kết quả. Vừa bắt đầu tu chứng Phật pháp, chúng ta hầu như đối với những “duyên” nầy hoàn toàn bất lực, đức Phật bèn bảo chúng ta rằng: “Nên không chấp ở tướng, như như bất động”. Cho dù trong thân tâm sinh khởi dục vọng, cảm thọ, hay là đối tượng bị thấy, bị nghe (sở kiến và sở văn) của thân tâm sáu căn, tất cả những gì cảm nhận và biết được của sáu căn, tất cả phân biệt, đều không nên bị chúng nó chuyển. Trước tiên xem nó thành cảnh huyễn, tức giống như quí vị muốn rời xa một địa phương, chắc chắn quí vị không thể vẫn bám trụ một địa phương nào đó mà không chịu buông bỏ, thế thì quí vị không cách nào rời xa nữa bước. Còn bây giờ muốn lìa xa ba cõi sáu đường, đó là tâm thức của quí vị, cho nên tâm không thể có bất kỳ sự bám víu, chấp trước vào một thứ gì. Tất cả trong ba cõi sáu đường đều giống như phong cảnh qua đường, rõ ràng phân minh, nhưng trong lòng quí vị lại là cảnh huyễn, không nên chấp trước, lấy bỏ, càng không thể dính mắc, dứt khoát chẳng buông tay. Nếu không thì, tâm của quí vị không cách nào an trụ trong tri kiến của Phật để quay về đầu nguồn.
Trọng điểm trong kinh văn, trước tiên đức Phật muốn phá bốn tướng chấp trước nhất của loại người muốn thành Phật, tức là tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả. “Tướng ngã” là đối với nhận biết của “tự ngã”, cho rằng cái “thân tâm” nầy chẳng dừng sinh diệt thay đổi, tức là bản thân mình. Cái tướng “tự ngã” nầy là mọi người vướng mắc, mỗi một cảm thọ của nó đều tác động chúng ta, khiến chúng ta sinh khởi tham, sân, si, mạn, nghi, lưu lại nhơn đạo.“Nhơn tướng” tức là chỉ phân biệt, nhận biết đối với người khác, thí như đẹp xấu, lành dữ v.v…. sau đó sinh khởi đủ thứ kiến giải, thủ xả, cảm thọ, sinh khởi đủ loại phiền não và chẳng tự tại. Chúng ta không quản được mình, còn muốn chiếm hữu, không chế người khác.
“Chúng sinh tướng” tức chúng ta nhận biết chúng sinh ba cõi sáu đường, chúng ta cho rằng những chúng sinh nầy có tướng mạo, có thói quen riêng, cho nên bị tướng sai biệt của họ chuyển, không thể đối đãi bình đẳng với tất cả (chúng sinh) hữu tình. Vả lại tướng chúng sinh của đại đa số mọi người kỳ thật là một thứ tưởng tượng của thời gian và không gian rộng lớn, ngoại trừ cõi súc sinh, còn các cõi chúng sinh khác không thấy, hầu như chỉ tồn tại trong chủng tử thói quen của chúng ta. Chúng ta bị thói quen dục vọng của mình mê hoặc, dẫn dắt, tức là đang bị chuyển bởi tất cả chúng sinh hữu tình trong ba cõi sáu đường.
“Thọ giả tướng” là mục tiêu người ta theo đuổi, mỗi người đều yêu quý sinh mạng, đều lo sợ chết mất, đều muốn sống mãi không già, đây là loài người dính mắc tướng sinh diệt của vạn vật, dẫn đến chấp trước quan niệm có thời gian, không gian cố định. Người chấp trước vào tướng sinh tử, cho dù tìm cầu cảnh giới niết bàn của Phật, cũng là muốn chẳng sinh diệt nữa. Đức Phật nói: “Bây giờ người thiện nam, người thiện nữ, muốn phát tâm quay về đầu nguồn sinh mạng, đều không thể an trụ, lôi kéo họ không cách nào trở về trước tiên là do có bốn thứ hiện tượng căn bản, tức là tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, trước hết hãy xem chúng thành hư vọng không thật, từ đó buông bỏ.” Do đó ở trong hồng trần, Bồ tát tự độ lợi tha, đều thật sự không “ngã” không “chúng sinh” có thể độ, nên trước tiên có kiến giải như vậy.
Điểm thứ hai, đức Phật nói đến sự xuất ly của Bồ tát đại thừa: “Không trụ tướng bố thí tất cả”.
Bố thí là phương pháp nhanh nhất “Phá tự ngã” trong tu hành của đại Bồ tát. Bồ tát muốn thành Phật, điều trước tiên phải có là tâm xả bỏ, tức phải có thể xả bỏ tất cả trong ngoài thân tâm, tức xa lìa ba cõi sáu đường. Nếu như quí vị vẫn còn lưu luyến tất cả trong ba cõi sáu đường, làm sao trở về đầu nguồn sinh mạng được, chỉ có thể trôi nổi lang thang trong ba cõi sáu đường. Làm thế nào để xả bỏ? Nên bố thí, khi xả bỏ quán tất cả đều là mộng huyển bào ảnh, không được không mất, đấy gọi là “không trụ tướng bố thí”, “không trụ tướng xả ly”. Bởi vì Bồ tát chỉ cần cho là “tự ngã thật có”, “Tất cả bố thí thật có”, thì bố thí đó chỉ là nghiệp thiện nhơn gian, chỉ có thể được báo thiện, không cách nào thành tựu quả vị Phật. Vả lại, Bồ tát trong khi bố thí, liền biết cảm thọ đến cho đi, mất đi, hy sinh, phụng hiến, sẽ đi đến khó khăn lạ thường, phiền
não đau khổ không dừng, rất khó an trụ trên tri kiến của Như lai, không thuận lợi trở về đầu nguồn sinh mạng.
Cho nên “Tâm xuất ly” của đại Bồ tát là biết ba cõi sáu đường tất cả hư vọng không thật, để tu hạnh bố thí, để xả bỏ, đây mới là xuất ly thật sự. Công đức bố thí như vậy mới là tràn đầy hư không, khắp cả pháp giới, mới có thể khiến chúng sinh thức tỉnh khỏi huyễn cảnh của luân hồi. Trong tu chứng thực tế, nếu một hành giả thật sự hiểu rõ trong ngoài thân tâm đều là hư vọng không thật, thì cũng không có cái gì không thể xả bỏ. Nhưng phần nhiều hành giả trước tiên có tri kiến như vậy, dần dần tu bố thí, từ chỗ không xả đến xả, từ trong xả bỏ không cầu đáp lại, không mong cầu sự thấu hiểu, công đức mới dần dần viên mãn. Khi tâm tham lam, được mất rốt cùng hết sạch, lúc ấy mới có thể biết lời Phật nói tất cả hư vọng không thật, thì ra hết thảy đẹp đẽ, giá trị, tác dụng, ý nghĩa.v.v… đều là quí vị dính mắc tâm giao phó cho tướng. Do đó, “chẳng trụ tướng xả ly” là phương pháp tu chứng của Bồ tát. Bồ tát khi đang trong quá trình dùng chánh tri kiến của Phật đối trị “Tâm được mất” do xả bỏ tạo thành, công đức dần dần viên mãn, dần dần từ trong cảnh huyễn ba cõi sáu đường tỉnh giác.
Điểm thứ ba, đức Phật nói đến một người muốn phát tâm thành tựu quả vị Phật, chấp trước tướng Phật không thể thấy tự tánh Như lai.
Tức hành giả không thể trong ý cảnh đem “Như lai” cố định cho là bất cứ một hình tượng nào, còn cố gắng biến thành kiểu dáng của họ. Đức Như lai ở trong không gian thời gian thị hiện đủ thứ hình tướng, nhưng hết thảy tướng đều là tùy duyên thị hiện độ chúng sinh. Nếu như hiện tại quí vị muốn phát tâm thành Phật, thì phải nên thấy được Phật tính vốn có của mỗi chúng sinh, mới có thể gọi là thật sự thấy được Như lai. Không phải khiến tự mình biến thành kiểu dáng một vị Như lai thị hiện trong không gian thời gian, nếu như làm như thế thì chúng sinh cõi trời có thần thông, thần biến trực tiếp biến thành hình dáng Phật là được rồi, không cần phải tu hành. Nhưng đó không phải là thành Phật. Nếu như trong tâm của quí vị đức Phật có kiểu dáng cố định, thì quí vị cũng không cách nào hiểu rõ cảnh giới Như lai, không cách nào thành tựu quả vị Phật. Nếu như quí vị có thể hiểu rõ hết thảy tướng hư vọng, không chấp tướng tự ngã, tướng chúng sinh, cũng không chấp tướng Phật, thế thì quí vị có thể biết rằng bản lai diện mục của quí vị và chúng sinh đều là Như lai.
Chúng ta vừa bắt đầu tu chứng, bởi vì trong tâm không bình đẳng, có đủ loại tướng sai biệt, cho nên có tướng chúng sinh, cho rằng mình là phàm phu chúng sinh, trong tâm sẽ có một tướng Phật muốn trở thành trong ý cảnh. Như vậy, quả Phật viên mãn trở thành việc biến từ tướng phàm phu thành tướng Phật. Đức Phật bảo chúng sinh, hết thảy tướng đều là hư vọng. Quí vị muốn trở về đầu nguồn của sinh mạng, không thể có tướng phàm phu, tướng chúng sinh của tự ngã, đương nhiên cũng không thể có một tướng Phật muốn thành, nếu không thì quí vị không cách nào thành tựu. Khi quí
vị thật sự lìa bỏ hết thảy tướng, không chấp trước hết thảy tướng, thì sẽ thấy được Như lai.
Điểm thứ tư, đức Phật nói đến một người muốn phát tâm thành tựu quả vị Phật, còn không thể chấp trước tướng Phật, cũng chẳng thể có tướng phi pháp.
Đức Phật bấy giờ là vì chúng ta thuyết pháp, như vì có bệnh nên cho thuốc, bệnh chẳng giống nhau, thì thuốc dùng cũng chẳng giống nhau, sau khi chúng ta hết bịnh thì thuốc cũng nên bỏ. Nếu như chúng ta không có tướng Phật, không có tướng ngã, thì sẽ không có người thuyết pháp và người nghe pháp, cũng sẽ chẳng có tướng pháp. Không nên có tri kiến “đắc được phật pháp” hoặc “một thứ pháp nào đó gọi là Phật pháp”; nhưng cũng không nên lý giải thành Phật phủ nhận tất cả, nói tất cả là hư vọng, Phật pháp cũng hư vọng, không cần học tập tu chứng Phật pháp, không cần công đức, có thể từ vũ trụ vạn tướng, từ trong huyễn cảnh luân hồi tỉnh giác, hoặc cho rằng không pháp có thể nương tựa học tập, đây lại dính mắc “Phi pháp tướng”.
Nếu như chấp trước “tướng của Phật pháp” học tập Phật pháp, trong tâm thức chỉ biết tăng thêm nhiều khái niệm văn tự của Phật học, càng thêm nhiều tri kiến phân biệt, là không cách nào trở về được quả vị cảnh giới Như lai. Khi đức Phật đang nói đến chẳng nên dính mắc pháp tướng, chẳng nên dính mắc chẳng phải pháp tướng, Ngài khai thị nói: “Nếu như trong đầu chúng sinh chứa nhiều tri kiến ‘phá tướng’, mà chẳng
phải nghe Phật thuyết pháp xong liền buông bỏ chấp trước, tức dính mắc pháp tướng. Hoặc sau đó buông bỏ chấp trước, lại chấp rằng pháp mà họ học là Phật pháp chân chánh, họ đắc được Phật pháp, như vậy đối với chấp trước pháp và tâm có sở đắc, giống như một người qua sông vác luôn chiếc thuyền lên bờ, vẫn chưa biết đức Phật đang nói gì.”
Điểm thứ năm: Đức Phật nói đến một người muốn phát tâm thành tựu quả vị Phật, trong ý cảnh không thể có “quả vị” có thể đắc, đức Phật thuyết pháp cũng không có pháp cố định có thể giảng.
Tức là một người dù không dính mắc tướng Phật, cho rằng đức Phật không hình không tướng, kỳ thật người dính mắc tướng văn tự, “Vô hình vô tướng” cũng là một cái tướng. Nếu như một người không chấp trước dáng đức Phật to lớn như thế nào, tiến thêm một bước nữa không thể cho rằng có một quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác có thể được, bởi vì thành Phật là buông bỏ hết thảy “tâm sở cầu” và “tâm sở đắc”. Nếu như hành giả cho rằng “vô thượng chánh đẳng chánh giác” là một thứ có thể được, cho dù là một cảnh giới hay chứng đắc viên mãn, tâm sở cầu, tâm sở đắc trước sau gì không cách nào dừng lại, tức là cũng vĩnh viễn không cách nào ngay hiện tiền trở về được trong cảnh chân không của Như lai, cũng không cách nào thành Phật. Đức Phật nói: “Ta thường giảng nhiều pháp môn khác nhau cho mọi người nhưng không có một cái pháp cố định nào gọi là Phật pháp. Phật thuyết pháp là an lập trên nền tảng không ngã, không nhơn, không chúng sinh thuyết pháp, không thể lấy, không thể nói, là đối ứng sự chấp trước của mỗi loại chúng sinh tùy cơ ban bố giáo pháp. Bởi vì chúng sinh chấp trước chẳng đồng, Phật pháp nói ra cũng chẳng đồng, căn bản là không có một
Phật pháp cố định có thể được, có thể lấy. Không phải riêng Ta nói như thế, mà các vị thánh nhơn khác cũng nói như vậy.”
Khi đức Phật thuyết pháp xong, thông thường có người thiện nam, người thiện nữ, vừa phát tâm muốn thành Phật, rất dễ phát sinh chỗ sai lầm, những chỗ nầy nếu như không có chánh tri kiến của Phật, thì hết thảy tu chứng đều không phải là hành đạo Bồ tát, đương nhiên không cách nào thành tựu quả vị Phật. Trong cuộc sống thực tế, đại Bồ tát và chúng sinh phàm phu giống nhau, làm tất cả sự việc trên thế gian, hành thiện, nhưng vì Bồ tát làm theo sự chỉ dẫn của chánh tri kiến của Phật, thì có thể ra khỏi luân hồi bể khổ, thành tựu quả Phật. Còn chúng sinh phàm phu nếu như không có chánh tri kiến của Phật hướng dẫn, bất luận làm gì, cho dù làm từ thiện, có khi cũng sẽ rơi vào trong bể khổ phiền não, hư vọng, nhiều nhất cũng chỉ được phước báo thiện trời người.
Điểm thứ sáu, đức Phật thuyết pháp theo cách gần gũi hơn với trạng thái tu hành của đệ tử đang nghe pháp ngay trước mắt.
Mở đầu “Kinh Kim Cang” đề cập đến Phật lần này thuyết pháp, người nghe pháp có các đại tỳ kheo số lượng một ngàn hai trăm năm mươi người, những vị đại tỳ kheo nầy rất nhiều vị có mức độ chứng đắc từ sơ quả đến tứ quả A la hán, vả lại người thiện nam, người thiện nữ chưa chứng vào cảnh giới sơ quả đến tứ quả cũng sẽ lấy các ngài làm gương mẫu, cố gắng muốn chứng vào cảnh giới của các ngài. Sợ các đệ tử có tâm sở đắc để cầu quả vị thành tựu, mà chẳng thông qua buông bỏ phân biệt, chấp trước đạt được, do đó đức Phật từng bước hỏi Tu Bồ Đề, từ sơ quả đến tứ quả có quả vị nào có thể đạt được không. Đương nhiên phần trước cũng đã nói qua không tướng ngã, không tướng nhơn, không tướng chúng sinh, không tướng Phật, không tướng pháp, đương nhiên cũng chẳng có tướng quả vị A la hán. Tu Bồ Đề đã từng bước trả lời rằng không quả vị nào để đạt được. Đức Phật lại tự đem mình ra ví dụ, và nói: “Ngày xưa Ta ở nơi đức Phật Nhiên Đăng học tập, cũng không có đắc được bất kỳ pháp và quả vị nào.”
Hết thảy những đối đáp nầy đều là phá “tâm có sở đắc” của các đệ tử. Vì tất cả tướng hư vọng, nhưng chúng sinh nghe rồi, “Tất cả tướng” này phạm vi quá lớn, nên đức Phật lại thực tế hóa các tướng đó thành vấn đề cụ thể, thí như tướng Phật, tướng phật pháp, tướng A la hán, đây là những tướng các đệ tử Phật mong muốn đạt được liền, và cũng là tướng dễ bị chấp trước trong ý cảnh. Thực ra, những tướng nầy cùng với tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả mà chúng sinh phàm phu dính mắc chẳng có gì khác nhau. Trong cuộc sống thường ngày, Phật khẳng định mỗi một quả vị của bốn quả a la hán chỉ là đại diện cho việc phá bỏ một số chấp trước nào đó trong quá trình tu hành, tạm thời đắc được cảnh giới và mức độ chứng ngộ mà một số người bình thường không cách nào có. Nhưng chúng sinh vốn là Phật, chúng ta nên an lập trên tri kiến như vậy để học tập, và tu chứng Phật pháp, mọi điều trải qua trong tu chứng đều là việc trong mộng, cho dù đạt được thứ gì, hay buông bỏ điều gì. Nhưng
đừng vì vậy mà xem thường bốn quả A la hán, bởi vì mức độ chứng đắc của họ khiến họ có năng lực tỉnh giác nhanh chóng hơn từ trong mộng.
Điểm thứ bảy, sau khi đức Phật nói xong quả vị A la hán, lại nói đến tướng công đức của Bồ tát.
Trong mắt người thiện nam, người thiện nữ vừa mới phát tâm, Bồ tát hành tất cả pháp lành trong thế gian và xuất thế gian, thanh tịnh hóa tâm mình và người khác, phổ độ chúng sinh, làm tất cả công đức hộ trì Phật pháp, gọi là trang nghiêm tâm mình hoặc tất cả cõi Phật phương khác. Đức Phật nói vốn vô ngã, vô chúng sinh, vạn pháp trong thế giới bình đẳng, cõi Phật vốn tự thanh tịnh, cho nên Bồ tát hành tức không có gì để hành (hành vô sở hành). Người phát tâm thành Phật không thể chấp trước hạnh Bồ tát, cho đến thân tướng công đức Bồ tát lớn như núi chúa tu di, nếu không thì sẽ là “tâm có chỗ trụ”, không cách nào trở về quả vị Như lai. Bồ tát “Chẳng nên dính mắc tất cả tướng hành tất cả pháp lành”, cũng tức là “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, lúc bấy giờ, công đức của Bồ tát mới có thể hợp về Tánh không, mới có thể thành Phật.
Trong cuộc sống thực tế, không chấp trước “tướng Bồ tát”, “tướng công đức”, chẳng phải đức Phật nói không cần hành đạo Bồ tát, không cần công đức viên mãn, mà chỉ cần mang tri kiến Như lai trên quả vị Phật, để hành như vậy, quí vị mới có thể nhanh chóng có đầy đủ công đức, phẩm chất và mức độ chứng đắc viên mãn của Phật. Bởi vì quí vị vốn là Phật.
Điểm thứ tám, Phật bảo các đệ tử, phát tâm thành tựu quả vị Phật, nên biết vật nhỏ như vi trần, vật lớn như ba ngàn đại thiên thế giới đều là hư vọng.
Như vậy mới có thể an lập trong cảnh giới “vô sở trụ”. Hành Bồ tát đạo mà không có chỗ hành, sinh tất cả tâm mà không có chỗ sinh, chỗ diệt, chỗ trụ, như vậy trở về quả vị Như lai mới có thể an tâm, mới có thể không phiền não, không vọng niệm.
Điểm thứ chín, điều mà đức Phật phá chấp là tướng công đức của Phật trong tâm của các đệ tử, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp (tùy theo hình tướng), cũng là những hình tượng mà các đệ tử vừa phát tâm dễ dàng theo đuổi và ham muốn.
Tuy đức Phật nói tất cả tướng hư vọng, nhưng các đệ tử không nhất định lập tức có thể đem tướng công đức từ trong tâm thức tiêu trừ, vẫn có thể sẽ có chỗ cầu, có chỗ đắc, vả lại nếu như biết thân tướng nầy là kết quả của Bồ tát nhiều kiếp hành đạo Bồ tát, bố thí, nhẫn nhục, sẽ sinh khởi tâm kính sợ, chẳng dám dễ dàng nói nó cũng là hư vọng. Nhưng đức Phật nói tướng nầy là hư vọng, chỉ là giả danh.
Khi đức Phật phá chấp trước trong tâm các đệ tử đến đây, Giải không đệ nhất Tu Bồ Đề các tâm đều tiêu mất, nước mắt chảy tràn trề, rút ra được kết luận “Lìa tất cả các tướng, gọi là chư Phật”. Bây giờ mọi người nghe đến đây, cũng nên hiểu được Tu Bồ Đề nói “Lìa tất cả tướng”, tức là đức Phật nói “tất cả tướng hư vọng”. Chẳng phải làm cho quí vị quăng bỏ trong cuộc sống hiện thực, phủ nhận tất cả tướng, hoặc đi phân biệt, tranh luận về thật hư chân giả của tất cả tướng mà là “biết tất cả tướng hư vọng” tức là thật sự lìa tất cả tướng, như vậy tức là “vô sở trụ” sinh tâm, như vậy tức là hành không chỗ hành, tu không chỗ tu, đắc không chỗ đắc. Nếu như một người phát tâm thành tựu quả vị Phật “biết tất cả tướng hư vọng” hết thảy việc chướng ngại tự mình thành đạo dứt khoát không làm, càng không làm việc tổn thương chúng sinh khác, mà còn thực hành hạnh Bồ tát, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, .v..v….cũng không cảm thấy khó khăn.
Đức Phật còn đem mình ra thí dụ tiêu biểu kiếp trước tu hạnh nhẫn nhục để trình bày quan điểm trên. Đức Phật nói kiếp xưa Ngài từng làm tiên nhơn nhẫn nhục năm trăm đời, vả lại ở một kiếp nọ “tu hạnh nhẫn nhục” bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể, Ngài đều an trụ trên cái thấy “Tất cả tướng hư vọng”, không tướng ngã, tướng nhơn, cũng không có tướng của sự việc có thể nhẫn, không khởi niệm sân, cuối cùng mới có thể trong “hạnh nhẫn nhục” thấy được Tánh không, sau cùng viên mãn quả vị Phật.
Đức Phật nói đến đây, tổng kết rằng: “Người thiện nam, người thiện nữ, phát tâm cầu quả vị Phật vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên ‘lìa tất cả tướng mà phát tâm’, vì các tướng hư vọng, lìa tất cả tướng thì không chỗ cầu (vô sở cầu) không chỗ đắc (vô sở đắc) đây mới chính là tâm xuất ly thật sự, Bồ tát phát tâm thật sự.” Dù biết tất cả tướng hư vọng, thật sự không chúng sinh có thể độ, nhưng mỗi một vị Bồ tát muốn phát tâm vì lợi ích tất cả chúng sinh mà hành bố thí, tu nhẫn nhục.v.v….. đây là phương pháp tu chứng là cần thiết “phá chấp ngã” trở về quả vị Như lai, mà còn từ trên bản chất, lợi ích chúng sinh tức là lợi ích chính mình. Lợi ích chúng sinh mới có thể công đức viên mãn, thành tựu quả vị Phật.
Đức Phật lại nêu ví dụ nói, nếu như Bồ tát trụ tướng tu hạnh bố thí, tướng ngã, tâm sở cầu, tướng nhơn đều sẽ hình thành chướng ngại tu hành, những chướng ngại nầy khiến tâm người ta giống như đi vào nơi bóng tối, không cách nào thấy được ánh sáng. Hết thảy tướng, nhỏ như hạt bụi, nhẹ như một chiếc lông, chỉ cần quí vị cho nó là thật có, thì trong tâm chấp trước, dính mắc, hạt bụi đó, chiếc lông đó, sẽ che kín con mắt của quí vị, khiến quí vị bị một chiếc lá che chắn con mắt không thấy được rừng rậm, sẽ tràn đầy toàn bộ thân tâm thế giới của quí vị, khiến cho quí vị như bị nhốt trong tù, như mang gánh nặng, không thể trở về cảnh giới tự tại của Như lai.
Đức Phật còn nói, kiến giải như vậy người ưa pháp nhỏ thì nghe không nổi, bởi vì người ‘ưa pháp nhỏ’ chỉ cầu một chút phép thuật thần thông, thần biến, cầu đời sống bình an khỏe mạnh, an tịnh vui vẻ, cầu đời nầy trường sinh bất lão, cuộc sống được thoải mái hạnh phúc. Người như vậy muốn khiến họ lìa tất cả tướng, tiếp nhận tri kiến “tất cả tướng hư vọng” mà thực hành hạnh Bồ tát, bố thí, trì giới, nhẫn nhục,.v.v….tạm thời xả bỏ vinh hoa phú quí của nhơn gian, họ không cách nào tiếp thọ. Vì họ có ngã kiến, nhơn kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến. Mà trong mắt của Phật, cho dù một đời nầy sống thọ đến ngàn tuổi, cũng chỉ là trong khoảng sát na khảy móng tay thôi.
Khi đức Phật nói tri kiến ở trên, bảo với các đệ tử, nếu có người có thể hiểu được tất cả những điều Ta nói mà tu hành, thì công đức, quả báo rất lớn chẳng thể nghĩ bàn. Bởi vì làm như vậy có thể đạt được giải thoát khỏi luân hồi, có thể thành Phật, được đại tự tại, đương nhiên quả báo công đức không thể nghĩ bàn.
Những điều đã nói trên về cơ bản là đức Phật chỉ ra những sai lầm trong tri kiến mà các đệ tử vừa mới phát tâm dễ mắc phải, mà còn dễ bị chấp trước tướng, trong kinh văn thuộc một phần, tức là mười bảy phẩm đầu trong phiên bản của chúng ta hiện nay.
Trong Kinh Kim Cang từ phẩm thứ mười bảy về sau, chúng ta thấy Tu Bồ Đề đặt lại câu hỏi với đức Phật, tức là người thiện nam, người thiện nữ phát tâm cầu chứng quả vị Phật, phải nên an trụ trên tri kiến của Phật như thế nào? Làm sao hàng phục phiền não, vọng niệm trong tâm? mà góc độ trả lời của Phật trong kinh văn có chỗ chẳng đồng. Bởi vì trong mười bảy phẩm trước đức Phật đã một lần hoàn toàn phá
tướng mà các đệ tử đang chấp trước trong tâm ngay lúc đó, bây giờ bắt đầu nói về cảnh giới quả vị Như lai sau khi phá tướng, ý định là khiến các đệ tử quay lại quán soi bên trong, như như bất động, an lập ở góc độ các pháp vô ngã, nếu được như vậy, các đệ tử đã cùng Phật chẳng hai (Bất nhị). Chúng ta tạm mượn cái tên gọi, cảnh giới mà các đệ tử phải nên an lập này là “cảnh Chân không Như lai” chúng ta thử xem đức Phật nói cảnh giới nầy như thế nào.
1.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không có người phát tâm. Vì không ngã, không nhơn, không chúng sinh, thế thì ai đang phát tâm cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác? Ở đây, Như lai nêu ra thí dụ mình ở nơi Phật Nhiên Đăng, nói: Ta ngày xưa tu hành nơi Phật Nhiên Đăng, chính vì liễu ngộ cái lý không có một người phát tâm, cũng không có một người chứng quả vị, do đó Phật Nhiên Đăng mới vì Ta thọ ký thành Phật. Nói tóm lại, Như lai là các pháp nghĩa như vậy. Tức nói vạn pháp đều là như thế, đều không ngã, không tự tánh, bản tánh đều là Như lai.
2.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không có Bồ tát. Không có một thứ gì gọi là Bồ tát, không có thân tướng công đức lớn như núi Tu di, cũng không có việc trang nghiêm cõi Phật.
3.- Trong “cảnh Chân không Như lai” có ngũ nhãn lục thần thông, nhưng nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn cái bị thấy (sở kiến hay đối tượng bị thấy) đều là hư vọng, hết thảy con mắt đều không chỗ sinh, tất cả những gì thấy được (sở kiến) đều không tự tánh.
4.- Như lai có vô lượng hoá thân, tùy theo duyên chúng sinh được độ mà thị hiện ở mỗi cõi, nhưng trong “cảnh Chân không” không có tâm thị hiện. Thị hiện ở nhơn đạo, Như lai cũng nói cát là cát, Ngài cũng ôm bát hóa trai, cùng với đại chúng không khác.
5.- Trong “cảnh chân không Như lai” không tâm quá khứ, không tâm hiện tại, không tâm vị lai, không thời gian không gian, không có sự trôi qua của “thời gian không gian”, không biến đổi hoặc chẳng động, là không sinh.
6.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không có phước đức. Bởi vì trên Bồ tát đạo phước đức tích lũy có thể vô lượng vô biên, viên mãn khắp tất cả chỗ.
7.- Trong “cảnh chân không Như lai” không có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp thân hình.
8.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không có tất cả tướng vũ trụ, không có ba ngàn đại thiên thế giới.
9.- Trong “cảnh Chân không Như lai” chẳng sinh một niệm, không người thuyết pháp, không người độ chúng sinh.
10.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không có chúng sinh, không có phàm phu.
11.- “Cảnh Chân không Như lai” tâm không chỗ đắc. (vô sở đắc).
12.- “Cảnh Chân không Như lai” các pháp bình đẳng. (Vì các pháp tánh không).
13.- “Cảnh Chân không Như lai” Như lai cũng nói có ngã, nhưng chỉ là giả danh.
14.- “Cảnh Chân không Như lai” không có người quán và không có nơi quán. (Không có năng quán sở quán).
15.- “Cảnh Chân không Như lai” đối với vũ trụ vạn pháp không nói đoạn diệt, tức chẳng phải là quăng bỏ hay phủ nhận tất cả.
16.- Trong “cảnh Chân không Như lai”, Như lai không đến không đi, không sinh không diệt.
17.- Trong “cảnh Chân không Như lai” không duyên khởi, cũng không tánh không.
18.- “Cảnh Chân không Như lai” không có bất cứ tri kiến phân biệt nào.
19.- “Cảnh Chân không Như lai” vạn pháp bình đẳng, chẳng sinh pháp tướng.
Vậy thì làm thế nào cúng dường, tu chứng, hoằng dương “Kinh Kim Cang”? Trong kinh văn đức Phật có khai thị vài chỗ quan trọng như sau:
Thứ nhất, thế nào là giác ngộ viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Trong phẩm thứ hai mươi ba, đức Phật nói: “Là pháp bình đẳng, không có cao thấp, gọi là Vô thượng chánh đẳng chánh giác.”
Do đó, sự giác ngộ viên mãn của vô thượng chánh đẳng chánh giác là chỉ: Chứng đắc vạn pháp bình đẳng.
Cho nên người có giác ngộ viên mãn đối với vũ trụ vạn pháp có tâm bình đẳng, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý bình đẳng.
Thứ hai, làm thế nào để đạt được sự giác ngộ viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Trong phẩm thứ hai mươi ba, đức Phật nói: “Theo không ngã, không nhơn, không chúng sinh, không thọ giả, tu tất cả pháp lành, thì chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cái gọi là pháp lành, Như lai nói chẳng phải pháp lành, gọi là pháp lành.”
Do đó, hành giả ở trong hồng trần không nên dính mắc tất cả tướng, tu tất cả pháp lành, đương nhiên cũng chẳng chấp trước tướng pháp lành. Thì có thể thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Thứ ba, làm thế nào cúng dường “Kinh Kim Cang” cúng dường Như lai?
Trong phẩm thứ năm, đức Phật nói: “Phàm hết thảy tướng, đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như lai.”
Trong phẩm thứ mười bốn, Tu Bồ Đề nói: “Lìa tất cả tướng, thì gọi là chư Phật.” Đức Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy.” Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng, phát tâm thành đạo.
Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng, xả bỏ ba cõi sáu đường, sáu căn sáu trần. Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng, thấy tự tánh Như lai.
Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng hành Bồ tát đạo. Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng, hoằng dương Phật pháp.
Cho nên hành giả phải lìa tất cả tướng, làm tất cả sự nghiệp lợi sinh trong thế gian và xuất thế gian, tâm không chỗ cầu, tâm không chỗ đắc.
Hành giả nên lấy cách làm như ở đây để cúng dường tự tánh Như lai, cúng dường “Kinh Kim Cang”.
Thứ tư, làm thế nào tu chứng, giảng giải theo Kinh Kim Cang?
Trong phẩm hai mươi hai đức Phật nói: “Không chấp nơi tướng, như như bất động, quán tất cả pháp hữu vi, như mộng huyển như bong bóng, như sương mai cũng như điện chớp.”
Cho dù hành giả ngồi trên đệm hay là trong hành vi thường ngày, tin điều Phật đã nói “Tất cả tướng hư vọng”, tất cả cảm thọ trong ngoài thân tâm, thể nghiệm, cảnh giới, phân biệt, nhận biết đều là hư vọng. Lúc bấy giờ, tâm không chỗ sinh, không chỗ diệt, không chỗ trụ, lúc bấy giờ tâm an, gọi là “An trụ chỗ không trụ”, đây tức là “pháp giới đại định”, “Như lai không định”. Chỉ là vừa mới bắt đầu tu chứng, người dính mắc tướng, đem “hư vọng” cũng định nghĩa là một cái cảnh giới, một cái tướng. đó tức là an trụ nơi hư không hoặc trong hư vô, vẫn là chấp tướng an trụ, không cách nào đi thẳng vào không định. Như vậy có thể thông qua việc tu tập các pháp môn khác trước, như tu học dần dần pháp Chỉ, Quán để đạt thành.
Trong kinh văn, đức Phật bảo chúng ta làm như thế nầy để diễn giải và giải thích Kinh Kim Cang, do đó chúng ta cần thông qua thật chứng mới có thể không chấp trước đối với tất cả tướng, như như bất động an trụ trong tri kiến của Phật, vì người khác giải thích trí tuệ bát nhã của Phật.
Thứ năm, cảnh giới chứng ngộ học tập kinh Kim Cang.
Trong phẩm thứ ba mươi mốt đức Phật nói: “Người phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác, đối với tất cả pháp nên biết như vậy, thấy như vậy, tin hiểu như vậy, chẳng sinh pháp tướng.”
Sau khi hành giả thật sự nghe hiểu trí tuệ Bát nhã của Phật, liền chẳng sinh pháp tướng, “chẳng sinh pháp tướng” tức là cảnh giới chứng ngộ học tập kinh Kim Cang. Khi hành giả chứng đắc “chẳng sinh pháp tướng”, đồng thời tiến vào cảnh “vô ngã”, bởi vì “tự ngã” tức là “các pháp tướng”, khi hết thảy pháp tướng chẳng sinh, “ngã” tức chẳng sinh, lúc bấy giờ hành giả tiến vào cảnh Chân không Như lai.
Cuối cùng thảo luận về công đức.
Trong kinh văn đức Phật nhiều lần nhắc đến, nếu có người có thể đối với trí tuệ Bát nhã tín thọ phụng hành, hoặc chỉ là tiếp nhận, một quan điểm tu chứng trong đó, và vì người khác diễn giải, công đức đều vô lượng vô biên.