Phần I – Hành trình tu đạo của tôi [Tập 9]

Lần thứ hai sư phụ thông báo tôi đi hành hương lên Ngũ Đài Sơn, lần này gia đình hầu như không ai phản đối. Vì Ngũ Đài Sơn chỉ cách nhà tôi hơn hai giờ xe, thời gian ngắn, chỉ đi một tuần lễ. Tôi từng đến Ngũ Đài Sơn một lần, nhưng khi ấy chỉ là đi chơi, mua vài món lưu niệm rồi trở về, lần này tất nhiên khác hẳn. Chị cả tôi cũng hứng thú, xin nghỉ một tuần để cùng tôi và em trai đồng hành. Khi đến Ngũ Đài Sơn, chúng tôi tìm một nhà trọ nhỏ nghỉ lại, rồi đến bái Phật Đỉnh. Trong lúc lễ bái tại Đại Hùng Bảo Điện, bỗng một vị đồng tử hiện ra trước mặt nói: “Văn Thù Bồ Tát hôm nay không ở đây, Ngài dặn tôi báo với con, ngày mai trăng tròn Ngài sẽ trở về.” Sau đó, chúng tôi lần lượt lễ bái Đài La Đỉnh.

Đêm hôm sau đúng vào ngày rằm tháng mười theo âm lịch. Tôi tự nhủ, Văn Thù Bồ Tát tôi chưa từng được gặp, hôm nay nhất định phải chờ Ngài trở về để chiêm ngưỡng. Từ 11 giờ đêm, tôi bắt đầu ngồi thiền, hướng về phía cửa sổ, qua kính tôi thấy bầu trời đêm trong xanh và một vầng trăng sáng treo lơ lửng. Tôi quên mất mình đang nhập định hay mở mắt, bỗng thấy một chấm đen nhỏ dường như di chuyển từ vầng trăng về phía tôi. Chớp mắt, kính cửa sổ bừng sáng một màu trắng, Văn Thù Bồ Tát hiện ra, ngồi uy nghi trên con sư tử xanh bước qua cửa sổ. Tôi hoàn toàn kinh ngạc, đẹp tuyệt vời! Nếu trước đây tôi từng thấy đẹp nhất là thiên nữ, thì so với hiện thân của Văn Thù Bồ Tát, tất cả đều trở nên tầm thường. Trong ánh sáng mờ ảo, Văn Thù hiện thân nam tính, y phục trang nghiêm rực rỡ, tay cầm một cây sáo ngang đặt trước môi, thổi. Con sư tử xanh cuộn mình dưới chân Ngài, sáo dường như vang lên, nhưng tôi lại không nghe được âm thanh. Tôi hỏi: “Bồ Tát đang thổi gì?” Ngài đáp: “Ta đang thổi tất cả âm thanh của thế gian…” Dường như Ngài còn hỏi tôi mọi sự có ổn chăng, tôi đáp: “Rất ổn.” Tôi nói với Ngài rằng ngày mai tôi sẽ đi chiêm bái Ngũ Đài Sơn. Chừng mười mấy phút sau, hình ảnh Văn Thù Bồ Tát biến mất khỏi phòng.

Ngũ Đài Sơn có năm đài được kiến lập trên năm đỉnh núi, tượng trưng cho năm loại trí huệ của Bồ Tát Văn Thù. Lên lễ bái Đại Loa Đỉnh thuộc tiểu triều đài, còn đi lễ cả năm đỉnh núi thì gọi là đại triều đài. Lúc ấy, cả năm ngọn núi đều đang sửa đường quanh núi nên xe hơi không thể lên được. Chúng tôi thuê một chiếc xe ba bánh cải tạo từ xe máy, đường núi vô cùng khó đi. Ngoại trừ Bắc Đài xe ba bánh không lên nổi, còn bốn đài khác đều có thể ngồi xe đi thẳng đến đỉnh. Mỗi ngọn núi mất trọn một ngày mới lễ bái xong. Sau năm ngày, mặt của cả ba chúng tôi đều bị nắng thiêu đến bong mất một lớp da. Bởi trong quá trình triều lễ năm đài, chúng tôi còn lễ bái tất cả tự viện dọc đường. Chỉ cần trên bản đồ còn tìm được ngôi chùa nào, chúng tôi đều vào đảnh lễ; dù nơi ấy chỉ còn lại phế tích, sư phụ cũng bảo tôi đến xem qua một lần. Sư phụ nói, đó là để rộng kết thiện duyên. Lúc ấy, mỗi tối trở về tay tôi vẫn ngứa dữ dội, trên da nổi đầy những mụn nước nhỏ li ti. Ngay cả bàn tay trái vốn không bị phỏng cũng trở nên giống hệt tay phải, da bắt đầu đỏ lên, lở loét rồi rỉ nước, nhưng mức độ ngứa ấy tôi vẫn còn có thể nhẫn chịu được. Sư phụ nói đó là hiện tượng đang bài độc, dặn tôi bình thường nên ăn ít lại, nếu có thể thì tốt nhất đừng ăn, chỉ nên uống nhiều nước, ăn trái cây và rau xanh, đồng thời phải siêng năng tọa thiền, cố gắng giữ tâm bình hòa, đừng sinh nóng giận, như vậy độc tố mới phát sinh trong thân sẽ ít đi phần nào.

Sau khi trở về từ Ngũ Đài Sơn, cơ thể tôi thỉnh thoảng cảm thấy khó chịu: thường không muốn ăn uống, toàn thân mềm nhũn, mất sức, đôi khi còn sốt nhẹ. Nhưng sau vài ngày nghỉ ngơi trên giường, mọi thứ lại trở về bình thường. Sư phụ nói đó là giai đoạn chuyển hóa khí mạch. Ngài bảo một người muốn hoàn tất chuyển hóa khí mạch cần trải qua hàng trăm lần “thoát thai đổi cốt” ở các mức độ khác nhau, và năng lượng cần cho quá trình này lớn đến mức có thể làm nổ vài quả địa cầu. Mỗi ngày tôi ngồi thiền hơn hai giờ; có thời gian, sư phụ quy định phải ngồi ít nhất tám giờ mỗi ngày, tôi cố gắng sắp xếp thời gian để thực hiện. Chỉ cần tổng thời gian ngồi thiền trong một ngày đạt tám giờ là xem như hoàn thành nhiệm vụ.

Nhưng sư phụ nói năng lượng như vậy vẫn còn kém quá xa, chủ yếu là sau khi xả tọa, vừa khởi tâm động niệm thì phần lớn năng lượng do tọa thiền tích tụ lại đã bị tiêu hao mất. Vì thế sư phụ nói: “Muốn chuyển hóa khí mạch, trước hết phải chuyển hóa tâm niệm. Tâm niệm buông không được bao nhiêu thì năng lượng mới có thể tụ được bấy nhiêu. Khi đạt đến chỗ tâm không chỗ trụ, năng lượng mới không bị tán thất quá nhiều.” Thông thường, năng lượng tôi tích tụ được trong lúc tọa thiền bị sáu căn tiêu hao đi một phần nhỏ, còn khi tâm niệm dao động thì lại tiêu hao mất phần lớn. Dù cho cả ngày chúng ta có thể giữ được sự tĩnh lặng, nhưng chưa đạt đến chỗ tâm không vướng mắc, thì nhiều lắm cũng chỉ là khai thông được một phần khí mạch. Nếu không chuyển hóa được nội tâm, những khí mạch đã thông ấy rồi cũng sẽ bị bế tắc trở lại. Con người thường cứ mãi quanh quẩn trong tiến trình ấy.

Từ chính sự thể nghiệm tu chứng của bản thân, tôi nhận ra rằng vào giai đoạn đầu, trung mạch, tả mạch và hữu mạch mà Mật tông nói đến không thể hoàn toàn nhìn thấy được. Chúng bị huyết dịch lấp đầy, bị bách mạch quấn quanh và đan xen với tạng phủ, nên mạch đạo rất ô trược. Đợi đến khi công phu tu chứng đạt đến một trình độ nhất định, mạch đạo mới bắt đầu được thanh tịnh hóa, lúc ấy mới dần hiện ra hình dạng, đôi khi có thể thông suốt. Tiếp tục tu hành thêm nữa, mạch đạo bắt đầu được quang minh sung mãn (khi chúng ta tích tụ năng lượng đến một mức độ nhất định thì sẽ chuyển hóa thành ánh sáng). Lúc ấy, tả mạch, trung mạch và hữu mạch mới hoàn toàn hiển hiện ra, hoàn toàn giống như trong sách nói: trung mạch phát ra ánh sáng lam đỏ. Vì tất cả tạng phủ của chúng ta đều nương theo các mạch mà sinh trưởng, nên sau khi khí mạch được khai thông, tạng phủ có sự dịch chuyển nhẹ là điều đúng đắn. Nhưng sự chuyển động ấy quá vi tế, từ bên ngoài hoàn toàn không thể nhận ra. Sự quấn kết chủ yếu giữa bách mạch và tam mạch chính là các mạch luân. Những mạch luân này sẽ theo sự chuyển hóa của khí mạch mà dần dần khai mở ở những mức độ khác nhau. Mỗi khi khai mở được một mạch luân thì sẽ xuất hiện những thần thông khác nhau. Người bình thường rất khó khai mở toàn bộ; có khi dù tu hành khá tốt cũng chỉ khai mở được một phần của mạch luân mà thôi.

Khí mạch trong toàn thân chúng ta nhiều như sông ngòi trên địa cầu, nhiều đến mức không thể đếm xuể. Nếu toàn bộ khí mạch đều được khai thông và chuyển hóa, thì mỗi tế bào trong thân cũng đồng thời được quang hóa. Khi ấy đã vượt ngoài phạm vi của ngũ nhãn lục thông, đạt đến cảnh giới tụ lại thì thành hình, tan ra thì thành khí.

Tâm và thân nương tựa lẫn nhau. Người bình thường chỉ có thể bắt đầu từ sự chuyển hóa của tâm ý thức rồi mới dần đạt đến sự chuyển hóa về sinh lý. Nhưng nếu có ngoại lực trợ giúp, đôi khi có thể thông qua sự chuyển hóa nơi sinh lý mà ngược lại ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của tâm ý thức. Quá trình tu chứng của tôi thuộc về trường hợp sau. Trong khoảng thời gian ấy, khi ở trong thiền định hoặc trong mộng, thường có một số loài động vật nhỏ đến thăm hoặc tìm tôi giúp đỡ. Phần lớn là để tránh một số kiếp nạn hoặc nhờ tôi trợ giúp siêu độ, trong đó rắn và hồ ly là nhiều nhất. Chúng thường mang theo nhân sâm, linh chi hoặc bảo vật làm quà báo đáp cho tôi. Còn tôi trong định cũng sẽ ăn những thứ ấy để tăng trưởng năng lượng của mình. Có một lần, một con rắn đen vừa ngắn vừa to đến dâng bảo vật. Chỉ thấy nó nhả ra một viên châu màu xanh đen, tôi cho rằng đó là xà đan, nếu tôi lấy thì nó sẽ chết mất. Lúc ấy bỗng có tiếng nói vang lên: “Mau đỡ lấy rồi ăn nó đi!” Tôi liền làm theo. Ngay lập tức, trước mặt tôi xuất hiện hơn vạn con rắn cùng với rùa. Chúng dường như vô cùng kích động, hoan hỷ nhảy múa reo hò. Xà vương nói rằng chúng đã sống tại một vùng đầm lầy cách tôi mấy trăm cây số suốt mấy trăm năm, nhưng hiện giờ đang gặp một kiếp nạn, cả tộc loại đều sắp bị hủy diệt, nên cầu xin tôi cứu giúp chúng…

Sau chuyện ấy, sư phụ nói với tôi rằng về sau nếu gặp những loài động vật ấy đến dâng bất cứ thứ gì thì đều phải tiếp nhận. Nếu không tiếp nhận thì sẽ không thể kết duyên, cũng không thể siêu độ cho chúng. Huống hồ, quá trình tu chứng của tôi cần đến một nguồn năng lượng vô cùng lớn, không phải chỉ dựa vào việc tọa thiền trong thời gian ngắn mà có thể tự tích tụ được. Những thứ chúng dâng hiến đều đã ngưng tụ năng lượng suốt hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, ăn vào là có thể trực tiếp nhiếp thọ. Chỉ là cũng có một số tệ hại: khi những năng lượng ấy trực tiếp tụ vào trong thân tôi, trong thời gian ngắn sẽ khó thể hòa hợp hoàn toàn với bản thân, hơn nữa còn có một số độc tố cần phải bài xuất ra ngoài nên cơ thể sẽ xuất hiện cảm giác khó chịu. Nếu năng lượng quá lớn, khí mạch của bản thân đôi khi cũng tạm thời không thể chuyển hóa kịp, khiến người bức bối vô cùng, thậm chí lúc thì lạnh lúc thì nóng, tâm phiền khí táo. Sư phụ bèn dạy tôi một vài phương pháp đơn giản để điều chỉnh và phóng thích năng lượng…

Viết một bình luận