Tu Chứng Phật Pháp III. Làm Thế Nào Để Tu Chứng Phật Pháp (5)

III. Tích Lũy Công Đức.

Trong Phật học, người ta thường nhắc đến việc tích lũy công đức. Vậy việc tích lũy công đức có ích lợi gì đối với sự tu chứng? Bởi vì muốn tu chứng, chúng ta cần thông qua năng lực chuyên chú để tiến vào trạng thái vong ngã; khi ấy năng lượng mới có thể chuyển hóa thành quang minh, đi vào định cảnh và vượt qua ba khu vực ấy. Mỗi ngày chúng ta có hai mươi bốn giờ, nhưng thời gian thực sự ngồi trên tọa cụ có lẽ chỉ hai hoặc ba giờ. Ngay cả trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, việc đạt đến trạng thái vong ngã cũng đã rất khó khăn; chúng ta thường xuyên bị vọng niệm, huyễn cảnh hoặc các cảm thọ của thân thể lôi kéo. Trong khi đó, phần lớn thời gian còn lại đều diễn ra trong đời sống hằng ngày. Vì vậy, chúng ta cần chủ động rèn luyện phẩm chất vô ngã ngay trong sinh hoạt thường nhật. Bởi chính phẩm chất vô ngã ấy sẽ giúp chúng ta dễ dàng tiến vào trạng thái vong ngã khi ngồi thiền. Vậy phải rèn luyện phẩm chất vô ngã như thế nào? Hạnh lợi tha chính là phương pháp tốt nhất để bồi dưỡng phẩm chất vô ngã. Khi lợi ích người khác, tự nhiên bạn sẽ không còn chỉ nghĩ đến bản thân mình nữa, bởi lúc ấy bạn không thể xuất phát từ lập trường của cái tôi. Đây cũng chính là điều mà Phật pháp thường nói: trước hết phải phát khởi “Bồ-đề tâm”. Phẩm chất của một vị Bồ Tát là niệm niệm đều vì lợi ích của người khác.

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường cho rằng “lợi tha” là giúp đỡ người khác. Đó là cách nhìn của người thế tục. Người ta thường làm các công việc từ thiện hoặc vô tư giúp đỡ những người yếu thế. Nhưng từ góc độ Phật pháp, những việc ấy chỉ là tích lũy phước báo cõi người và cõi trời, chưa thể trở thành công đức giúp giải thoát khỏi luân hồi. Trong lịch sử Phật giáo, Sơ Tổ Thiền tông là Tổ sư Đạt Ma. Khi mới đến Trung Quốc, Ngài được vua Lương Vũ Đế triệu kiến. Lương Vũ Đế là một vị hoàng đế rất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Ông đã cho xây dựng rất nhiều chùa chiền và có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển của Phật giáo tại Trung Hoa. Thế nhưng, khi ông hỏi Tổ Đạt Ma rằng những việc mình làm như vậy có công đức hay không, Tổ Đạt Ma nhìn vị hoàng đế đang ở địa vị cao sang, với những tập khí và dục vọng còn đầy sự chấp trước, rồi bình thản đáp: “Không có công đức.” Câu trả lời ấy hẳn đã tạo nên một sự chấn động rất lớn đối với Lương Vũ Đế, người vốn hết lòng tín ngưỡng Phật pháp. Nhưng cũng chính từ đó, tôi tin rằng ông đã có được một sự nhận thức và thấu hiểu sâu sắc hơn về Phật pháp.

Đối với một người tu chứng Phật pháp, “lợi tha” không đơn thuần là giúp đỡ người khác, mà là trong khi giúp đỡ người khác cũng đồng thời tu sửa và chuyển hóa những dục vọng cùng tập khí của chính mình. Chẳng hạn, khi đi trên đường gặp một người ăn xin, chúng ta có thể không chút do dự mà bố thí cho họ một ít tiền. Nhưng nếu hành động bố thí ấy không đi đôi với sự tu chứng, thì sự bố thí đó có thể chỉ là nhằm thỏa mãn nhu cầu về lòng thương, sự đồng cảm hay lòng trắc ẩn của cái tôi. Bởi vì chúng ta thấy họ đáng thương, cảm thấy mình có lòng nhân ái, có lòng cảm thông, nên sẵn lòng cho họ một ít tiền. Khi ấy, hành động ấy phần nào đã đáp ứng nhu cầu của cái ngã đối với việc biểu hiện tình thương và lòng nhân ái. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là bố thí theo ý nghĩa của Phật pháp. Bố thí trong Phật pháp đòi hỏi hành giả, trong khi bố thí, phải đồng thời buông bỏ lòng tham và sự chấp trước của chính mình đối với tiền tài; dĩ nhiên trong đó cũng có tình thương đối với người được bố thí. Nhưng điều quan trọng hơn là phải thường xuyên quán chiếu xem trong mỗi việc thiện mình làm, tâm niệm khởi lên có thật sự vô tư hay không. Đây chính là điều cần thiết để người tu hành tiến tới sự viên mãn công đức. Vì vậy, chỉ những thiện hạnh có khả năng chuyển hóa tập khí và dục vọng của chính mình mới có thể tích lũy công đức, trở thành trợ duyên cho sự tu chứng.

Phật pháp đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với người tu chứng trong việc hành thiện. Chẳng hạn như đối với hạnh bố thí vừa nói ở trên, Phật pháp yêu cầu phải thực hành bố thí trong tinh thần “tam luân thể không”. Điều này chỉ những người có sự hiểu biết nhất định về kiến địa Phật pháp mới có thể thực hiện được, tức là người bố thí là không, vật bố thí là không và người nhận bố thí cũng là không. Khi ấy, ngay trong lúc bố thí đã hàm chứa sự chứng nhập “vô ngã”. Vì đã vô ngã nên cũng không còn tha nhân để chấp trước. Mọi ngoại cảnh đều tồn tại tương đối đối với cái “ngã”. Có người tu cho rằng đã là “nhất thiết giai không” thì không cần làm gì nữa. Nhưng nếu bản thân vẫn còn bị cõi vật chất lôi kéo, thì mọi hình thức và hành vi đối với bạn vẫn vô cùng quan trọng. Vì vậy, cần biến thiện nguyện trong tâm thành hành động thực tế; đối với người tu hành, đó mới chính là hạnh lợi tha. Chỉ khi đem nguyện tâm chuyển thành hành động, mới thật sự là thực hành lợi tha.

Dĩ nhiên, nếu chúng ta cho rằng tất cả những sự giúp đỡ mà người khác dành cho mình chỉ là để họ tích lũy công đức, rồi vì thế mà không biết ơn, thì đó lại càng là một sai lầm lớn. Ngay cả loài vật còn biết báo đáp người đã cứu giúp mình, huống hồ là con người. Lòng biết ơn là một phẩm chất căn bản của đạo làm người. Thật ra, đôi khi dù không nâng việc thiện ấy lên thành một cảnh giới tu chứng, nhưng khi một người làm nhiều việc thiện, những việc làm ấy vẫn sẽ cảm hóa và chuyển biến thế giới nội tâm của chính họ, khiến họ ngày càng trở nên vô tư và vị tha hơn. Có thể họ chưa hề cố ý xem đó là một pháp tu hay nâng nó lên thành một phương diện của sự tu hành, nhưng họ vẫn đang tích lũy công đức. Bởi khi một người bước vào tầng bậc vô tư, họ đã bắt đầu tích lũy công đức rồi. Vì vô tư chính là phẩm chất của Bồ Tát. Người vô tư không quá coi trọng lợi ích và được mất của bản thân, không tính toán chi li, không cân đo theo kiểu trao đổi ngang giá, cũng không đòi hỏi phải có một lý do nào đó mới chịu làm một việc thiện.

Trong Phật pháp còn có pháp tu của hàng Đại thừa Bồ Tát gọi là “Lục độ vạn hạnh”. Lục độ cũng là một trong những phương pháp tốt nhất để tích lũy công đức, bởi đây là pháp môn mà Đức Phật thiết lập nhằm giúp hành giả rốt ráo phá trừ ngã chấp. Lục độ gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Ý nghĩa của “Lục độ” là sáu phương pháp đưa hành giả vượt thoát luân hồi. Pháp môn này đòi hỏi người tu phải vừa quán chiếu tự tâm, vừa thực hành trong đời sống, như vậy mới có thể gọi là pháp môn giải thoát. Nói cách khác, chúng ta phải đứng từ góc độ của vùng chân không để nhìn tất cả những hành vi tu chứng của mình; đứng từ vùng chân không để quán chiếu “tức hữu tức không”, “tức hữu tức không”. Mọi việc thiện sau khi làm xong đều buông xuống, đều quy về không; làm rồi thì buông, làm rồi thì không chấp trước. Nhờ vậy, chúng ta sẽ nhanh chóng trở về vùng chân không. Bởi vì mỗi một ý niệm, mỗi một hành vi đều được soi chiếu và yêu cầu theo lập trường của vùng chân không, nên con đường quay về ấy sẽ trở nên nhanh chóng hơn rất nhiều.

Bố thí là đem những gì mình có để giúp đỡ những người đang cần được giúp đỡ, như tiền bạc, công sức, tri thức, một nụ cười v.v… Khi thực hành hạnh bố thí, không nên có mục đích riêng, không cầu sự báo đáp; bố thí xong thì buông xuống, không giữ mãi trong lòng. Trong Phật pháp có nói đến việc bố thí với tinh thần “tam luân thể không”, tức là người bố thí là không, vật được bố thí là không và người nhận bố thí cũng là không. Nói cách khác, “người cho” là không, “vật cho” là không và “người nhận” cũng là không. Chỉ khi thực hành bố thí trong tinh thần tam luân thể không như vậy mới gọi là Bố thí Ba-la-mật, mới thuộc về phạm vi của sự tu chứng và mới có thể bước vào cửa ngõ giải thoát. Nếu không, đó chỉ là đang tạo các thiện nghiệp ở nhân gian, tích lũy phước báo cõi người và cõi trời mà thôi.

Độ thứ hai là Trì Giới Ba-la-mật-đa, tức là nương nơi trì giới mà bước vào cửa giải thoát. Giới luật của cả Đại thừa và Tiểu thừa có rất nhiều, nhưng đối với hàng cư sĩ tu theo Đại thừa, điều cốt yếu không ngoài tám chữ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.” Những gì phù hợp với quốc pháp, đạo đức và các chuẩn mực của xã hội, đồng thời mang lại lợi ích cho chúng sinh, thì được gọi là thiện; ngược lại là ác. Bởi khi chứng nhập vùng chân không, tất cả đều là “tức hữu tức không”, nên thiện và ác chỉ là cách phân định trong cõi vật chất mà thôi. Tuy nhiên, đã sống trong cõi người thì có những chuẩn mực đạo đức của cõi người; vì vậy, chúng ta vẫn nên y theo tiêu chuẩn thiện ác của nhân đạo mà hành xử và tu tập.

Bản chất của việc trì “giới” là thông qua sự ước thúc hành vi để thu nhiếp sự buông lung của tâm tánh, từ đó dần dần gột rửa ba độc tham, sân, si. Nếu chỉ chú trọng hình thức bên ngoài mà tâm tánh bên trong hoàn toàn không có sự chuyển hóa, thì chưa thể gọi là Trì Giới Ba-la-mật-đa, cũng chưa thể gọi là tu hạnh trì giới. Chúng ta có thể chưa hiểu nhiều về giới luật, nhưng năm giới căn bản thì hầu như ai cũng đã từng nghe qua, đó là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không uống rượu say.

Không sát sinh, nhiều người thường chỉ đơn giản hiểu là ăn chay. Thật ra, không sát sinh không chỉ là ăn chay hay phóng sinh. Trong Đại thừa Phật pháp, mọi sự tu chứng đều liên quan đến “tâm tánh”. Nếu trong tâm vẫn còn đố kỵ, sân hận, thì tâm sát hại có thể khởi lên bất cứ lúc nào. Chẳng hạn, khi đố kỵ hoặc oán hận một người nào đó, trong lòng có thể nảy sinh ý nghĩ mong cho người ấy biến mất hoặc chết đi. Tuy chỉ là một ý niệm khởi lên trong tâm, nhưng nếu một ngày nào đó bạn nắm trong tay quyền lực tối cao, như Võ Tắc Thiên, Từ Hy Thái Hậu, Hitler hay Napoléon chẳng hạn, thì rất có thể bạn sẽ tiêu diệt những người mình không ưa thích hoặc những ai đe dọa đến quyền lực của mình, khiến mình sinh tâm đố kỵ. Khi chưa có năng lực, có lẽ bạn chỉ dừng lại ở sự tưởng tượng và suy nghĩ; nhưng chính ý niệm ấy đã là tâm sát hại. Đố kỵ, sân hận, báo thù và tham lam đều là nhân của sát sinh. Chỉ cần những cái nhân ấy vẫn còn tồn tại trong tâm, thì tâm sát hại vẫn còn tồn tại. Tâm sát của con người không phải chỉ nhờ ăn chay mà có thể hoàn toàn tiêu trừ được.

Ví dụ như vào thời Đức Phật còn tại thế, các đệ tử của Ngài vì thọ trì giới không sát sinh nên có lúc không dám quét dọn tinh xá. Bởi trong khi quét dọn có thể làm tổn hại đến một số côn trùng nhỏ. Thế nhưng, nếu côn trùng gây hại sinh sôi quá nhiều thì lại ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi và tu hành. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng việc quét dọn tinh xá chỉ là để loại bỏ sự dơ bẩn, trong tâm không hề có ý niệm sát hại, cho nên dù vô tình làm chết hoặc làm bị thương một vài côn trùng nhỏ cũng không phạm giới sát sinh. Thực ra, trong đời sống hằng ngày chúng ta cũng thường xuyên giết côn trùng. Vậy có phạm giới hay không? Chẳng hạn như chính tôi từng bị muỗi đốt trong màn. Khó khăn lắm mới tìm thấy nó đang đậu trên tường, rồi tôi liền đập chết nó. Khi nhìn thấy vết máu của nó thấm ra trên tường, trong khoảnh khắc ấy trong lòng tôi sinh khởi một cảm giác rất hả hê, nghĩ rằng: “Lần này thì bắt được ngươi rồi!” Chính cảm giác ấy là “tâm sát” mà bình thường chúng ta rất khó nhận ra. Khi chúng ta sinh tâm vui mừng trước cái chết của nó, đó chính là đã trái với tinh thần của giới không sát sinh.

Giới không trộm cắp là không lấy những gì không thuộc về mình. Nghe qua thì điều này dường như rất đơn giản, tức là vật gì không phải của mình thì không lấy. Nhưng trên phương diện tâm tánh, ý nghĩa của giới này không chỉ giới hạn ở tiền tài vật chất, mà còn bao gồm cả tình cảm, quyền lực, tri thức và mọi thứ thuộc lĩnh vực tinh thần. Lòng tham, tâm chiếm hữu và sự ích kỷ của con người đều là những cái nhân của việc trộm cắp. Dục vọng của con người vốn không bao giờ biết đủ; hễ thích điều gì thì đều muốn chiếm làm của riêng. Chúng ta luôn muốn chiếm hữu mọi thứ trên thế gian để thỏa mãn sự truy cầu của cái “ngã” đối với danh vọng, lợi dưỡng và tình dục. Tâm trộm lấy và chiếm hữu ấy chưa từng thật sự chấm dứt.

Giới không tà dâm. Con người sinh ra từ tính dục, và tình dục thấm sâu vào từng tế bào của con người. Nếu phân chia một cách nghiêm ngặt, có thể chia thành ba tầng diện: dục, tình và ái. Dục là sự thỏa mãn ở tầng thấp nhất của vật chất; chỉ cần có sự kích thích và khoái cảm về mặt sinh lý là có thể đạt được. Chẳng hạn như việc mua bán dâm. Nam nữ hoàn toàn không quen biết nhau, gặp mặt rồi lên giường, đơn thuần chỉ là một trò chơi xác thịt. Tình thì đã liên quan đến sự đồng cảm, thấu hiểu và giao tiếp giữa hai bên nam nữ; vì cảm mến nhau, đồng điệu với nhau mà tự nhiên phát sinh quan hệ tình cảm và quan hệ nam nữ. Ái lại thuộc về một tầng diện cao hơn. Ái là dù người mình yêu có yêu mình hay không, mình vẫn có thể dành cho họ sự bao dung, thấu hiểu, thậm chí giúp đỡ mà không cầu báo đáp. Khi sinh mệnh của một người được thăng hoa từ tình dục lên đến tầng diện của tình yêu thương, thì người ấy không còn rơi vào tà dâm nữa. Có thể họ vẫn cần những nhu cầu thuộc phương diện tình dục, nhưng thân, khẩu và ý của họ đều rất đoan chính. Bạn sẽ thấy đó là một người có thân chính, lời nói chính và tâm ý chính. Ngược lại, nếu vừa nhìn thấy một người khác phái mình thích thì tâm liền dao động, gặp ai cũng dễ nảy sinh tình cảm, yêu người này vài ngày rồi lại nhanh chóng thích người khác, thậm chí cùng lúc biểu lộ tình ý với nhiều người, lời nói mang tính mập mờ, thích tạo ra những bầu không khí ám muội và nhập nhằng trong quan hệ, thì tất cả những điều đó đều là cái nhân của tà dâm. Tà dâm khiến tâm ý con người như vượn chuyền ngựa chạy, thần trí tán loạn, không thể duy trì chánh định.

Giới không vọng ngữ, nói một cách đơn giản là không nói dối, giữ sự thành tín và không lừa gạt người khác. Con người thường vì muốn bảo vệ tư tâm và lợi ích của bản thân mà nói dối. Có khi lời nói dối ấy gây tổn hại cho người khác, có khi không gây tổn hại, nhưng xét theo giới luật thì đều thuộc về sự phạm giới.

Giới không uống rượu, nói đúng hơn là không để việc uống rượu làm ảnh hưởng đến chánh thân, chánh ý và chánh ngôn của mình. Dĩ nhiên, trong một số trường hợp, thỉnh thoảng uống một ít cũng không phải là vấn đề quá lớn. Tuy nhiên, trong giới luật Phật giáo, đối với các đệ tử xuất gia thời Đức Phật, yêu cầu là không được uống rượu. Ở đây, tôi diễn giải giới ấy thành “không say sưa, nghiện ngập”. Tức là không để việc uống rượu làm tổn hại đến chánh thân, chánh ý và chánh ngôn của mình, không để tâm thần tán loạn và mất sự tỉnh giác. Đồng thời, đối với người tu hành trong thời đại ngày nay, từ tinh thần của giới không uống rượu này cũng có thể hiểu rộng ra rằng cần tránh xa tất cả các loại chất gây nghiện, chất gây mê và ma túy, vì chúng đều có thể làm mê loạn tâm thức và cản trở sự tu tập.

Vì vậy, trọng tâm của “Trì Giới Ba-la-mật-đa” là thông qua việc giữ gìn và kiểm điểm các hành vi của mình mà hành giả nhận ra những điều bất thiện trong nội tâm, nhận ra lòng tham, sân và si của chính mình, từ đó lập tức sinh tâm cảnh giác và sửa đổi. Đây chính là ý nghĩa của “nhiếp tâm vi giới”. Chỉ như vậy mới thật sự là “Trì Giới Ba-la-mật-đa” của Đại thừa, là pháp môn đưa hành giả bước vào cửa giải thoát.

Độ thứ ba là Nhẫn Nhục Ba-la-mật-đa, tức là nương nơi nhẫn nhục mà bước vào cửa giải thoát. “Nhẫn nhục” không có nghĩa là đối với mọi việc, mọi người đều cam chịu một cách thụ động, mặc cho người khác ức hiếp mà không phản kháng. Mà là khi đối diện với những người làm tổn hại đến mình, hoặc những hoàn cảnh bất công và nghịch cảnh mà mình cho là khắc nghiệt, trong tâm vẫn không sinh khởi sân hận. Nếu trong lòng đã dấy lên sự oán hận mãnh liệt, thì bất kể bề ngoài là nhẫn chịu hay phản kháng, cũng đều không còn thuộc phạm vi của “Nhẫn Nhục Ba-la-mật-đa”. Chữ “nhẫn” trong “Nhẫn Nhục Ba-la-mật-đa” còn hàm ý an trụ trong một cảnh giới và thấu rõ tính không của nó. Nghĩa là thật ra không có điều gì để nhẫn chịu cả, chỉ vì chúng ta khởi tâm phân biệt, chấp trước vào tướng mà cho rằng có một điều gì đó cần phải nhẫn. Trong mọi cảnh giới, nếu tâm luôn có thể quán chiếu nhân không và pháp không, thì sẽ dần giải thoát khỏi những cảm thọ phân biệt do lục căn mang lại. Có lúc tuy biểu hiện sự phẫn nộ, nhưng trong đó không có độc tố của sân hận, đó mới là bước vào cửa giải thoát. Chẳng hạn, có khi chúng ta dạy dỗ con cái, quở trách hoặc đánh phạt chúng. Tuy có biểu hiện giận dữ, nhưng bên trong không hề có sân hận, mà lấy tình thương làm nền tảng. Ngược lại, khi xung đột với người khác, phần lớn sự tức giận lại phát sinh từ tâm sân hận, chứ không phải từ tình thương. Trong Mật tông Tây Tạng, chúng ta cũng thường thấy nhiều tôn tượng Phật hiện tướng phẫn nộ, mặt mày dữ tợn, nanh vuốt sắc bén. Đó là bởi các Ngài đã chứng nhập tánh Không, nên ngay cả sự phẫn nộ ấy cũng thuộc về “chân không diệu hữu”, hàm chứa năng lực gia trì to lớn. Bởi nền tảng của các Ngài là tánh Không và lòng từ ái, chứ không phải sân hận.

Độ thứ tư là Tinh Tấn Ba-la-mật-đa, tức là nương nơi tinh tấn mà bước vào cửa giải thoát. “Tinh tấn” có nhiều phương diện khác nhau. Chẳng hạn, khi được nghe chánh pháp, liền có thể lập tức buông bỏ những nghiệp bất thiện trước đây, buông bỏ những công việc thế tục vô ích chỉ làm tiêu hao thời gian và sinh mệnh, đồng thời phát khởi tâm nghe học chánh pháp; đó cũng gọi là tinh tấn. Trong quá trình tu học Phật pháp, việc gì cần nhẫn thì nhẫn, việc gì cần đoạn thì đoạn; luôn nghiêm túc và tận tâm trong sự tu tập, từng thời từng khắc đều giữ thái độ đúng đắn đối với pháp tu của mình. Đối với những công khóa do thầy chỉ dạy, có thể kiên trì thực hành không gián đoạn, không tự tìm cho mình bất kỳ lý do hay cái cớ nào để buông lơi hoặc giải đãi. Tất cả những điều đó đều thuộc về phạm vi của “Tinh Tấn Ba-la-mật-đa”.

Độ thứ năm là Thiền Định Ba-la-mật-đa, tức là nương nơi thiền định mà bước vào cửa giải thoát. Trong Đại thừa Phật pháp, thiền định được phân thành một số loại chính: (I) Định tịch diệt của A-la-hán; (II) Du hí tam-muội của Bồ Tát; (III) Không định của Như Lai.

Độ thứ sáu là Trí Tuệ Ba-la-mật-đa. Trí Tuệ Ba-la-mật-đa được thành tựu trên nền tảng của Thiền Định Ba-la-mật-đa, bởi trong Phật học thường nói: “Do định mà phát huệ”, hay “định năng sinh huệ”. Còn như định tịch diệt của A-la-hán, du hí tam-muội của Bồ Tát hay không định của Như Lai v.v…, những cảnh giới ấy cần phải được từng bước thấu hiểu thông qua sự tu chứng và thể nghiệm thực tế.

Viết một bình luận