PHẨM THỨ HAI MƯƠI BẢY: VÔ ĐOẠN VÔ DIỆT;PHẨM THỨ HAI MƯƠI TÁM: BẤT THỌ BẤT THAM

“Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm: ‘Như lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.’ Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm, ‘Như lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.’ Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm, phá A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, thuyết chư pháp đoạn diệt. Mạc tác thị niệm! Hà dĩ cố? Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng.”

“Tu Bồ Đề! Nhược Bồ tát dĩ mãn hằng hà sa đẳng thế giới thất bảo bố thí; nhược phục hữu nhơn tri nhất thiết pháp vô ngã, đắc thành ư nhẫn, thử Bồ tát thắng tiền Bồ tát sở đắc công đức. Tu Bồ Đề! Dĩ chư Bồ tát bất thọ phước đức cố. “Tu Bồ Đề! bạch Phật ngôn: “Thế tôn! Vân hà Bồ tát bất thọ phước đức? “Tu Bồ Đề! Bồ tát sở tác phước đức, bất ưng tham trước, thị cố thuyết bất thọ phước đức.”

Đại ý phẩm nầy đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, bấy giờ nếu như ông có ý niệm như vầy, Như lai không cần dùng ba mươi hai thứ thân tướng viên mãn để chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, Tu Bồ Đề, đừng có tâm niệm như vậy. Nếu như ông có

cách nghĩ như vậy, thế là người giác ngộ cao nhất viên mãn nhất, tức là đang nói phải xả bỏ tướng đoạn diệt của tất cả hiện tượng tồn tại. Vì sao? Người sinh khởi giác ngộ cao nhất viên mãn nhất, đối với tất cả hiện tượng tồn tại không phải toàn bộ phủ định, xả bỏ để nhập vào cảnh giới đoạn diệt.”

Bởi vì trong trước phẩm nầy Như lai phủ định trả lời của Tu Bồ Đề, nói không nên dùng ba mươi hai tướng quán Như lai, khiến Tu Bồ Đề an trụ trên “cảnh giới chân không Như lai”, không có năng quán và sở quán, nhưng đối với chúng sinh vẫn còn mê hoặc về tri kiến của Như lai có thể sẽ cho rằng, đã là ba mươi hai tướng hư vọng, vậy thì có thể không cần tu hạnh thanh tịnh, không cần công đức cũng có thể thành Phật. Vì ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp Như lai là tướng công đức viên mãn, do đó ở đây đức Phật nói: “Các ông nhất thiết chớ nghĩ như vậy, thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác không cần đầy đủ công đức viên mãn. Không có công đức, thì ông có thể mãi mãi không cách nào từ trong mộng tỉnh lại.” Còn một vị đệ tử Phật thật sự liễu ngộ trí tuệ bát nhã, đối với tất cả ở thế giới nầy sẽ chẳng đơn giản phủ nhận và buông bỏ. Nếu như ở tầng nhận thức cho rằng Phật nói vạn pháp hư vọng, không có hoặc xả bỏ vạn pháp, trụ trong tịch diệt, thì Phật nói đó là thấy đoạn diệt, chẳng phải chánh tri kiến Phật. Để chứng minh quan điểm trên của đức Phật, khiến các đệ tử đối với quan điểm nầy càng có lĩnh ngộ sâu sắc, để cho các đệ tử biết trong tu hành hiểu rõ tất cả “pháp vô ngã” nên làm như thế nào, đức Phật liền đưa ra một ví dụ để trình bày điều vừa nói, tức là phẩm thứ hai mươi tám.

Nguyên văn đại ý là: Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, giả như có một vị Bồ tát, đem bảy báu đầy cả thế giới nầy nhiều như cát sông hằng để bố thí, lại có một người, liễu ngộ tất cả pháp đều vô ngã, tu hành có thể từ trong ‘nhẫn’ thành tựu, Bồ tát nầy được công đức vượt xa hơn Bồ tát ở trước. Tu Bồ Đề, tại vì sao? Bởi vì vị Bồ tát nầy không thọ nguyên nhân phước đức.

Tu Bồ Đề hỏi đức Phật: “Bạch Thế tôn! Thế nào là Bồ tát không thọ phước đức?”

Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, Bồ tát đối với phước đức đã làm không tham chấp, không chấp trước, do đó nói không thọ phước đức.”

Trong phẩm nầy đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, thí như có một vị Bồ tát, đem bảy báu nhiều như cát sông hằng để làm việc bố thí. Lại có một người liễu ngộ tất cả pháp vô ngã, ở trong “nhẫn” thành tựu. Bồ tát nầy có được công đức còn hơn vị Bồ tát trước kia. “Thế nào là “Nhẫn” đức Phật nói? Tức là khiến tâm an trụ trong tất cả cảnh, như như bất động, tức là nhẫn. Thí như, tu hạnh nhẫn nhục trong lục độ, nếu như chúng ta biết tất cả pháp đều không, không có người nhẫn, không có việc nhẫn, mà tự ngã cũng không có, tu như vậy mới có thể khiến tâm thật sự an trụ trong hạnh nhẫn nhục, nếu không thì “Nhẫn” nhục của chúng ta tức là chịu đựng, tức là đang nhẫn chịu. Chỉ cần cảm thấy có một tự ngã, có một người khác, có một sự việc đang nhẫn chịu, thì sớm muộn gì cũng sẽ nhẫn điều không thể nhẫn. Dù cho kiên trì về sau cũng là trải qua chịu đựng va chạm khó khăn, hy sinh và đền trả. Do đó biết tất cả pháp không, chúng ta mới có thể không khởi niệm sân, mới có thể khiến tâm trường cửu, không đắc, không mất an trụ trong tu hành, chứng đắc quả Phật viên mãn. Tu hạnh nhẫn nhục, nếu như không

biết đạo lý vạn pháp đều không, kỳ thật hết thảy hạnh lành, hết thảy nhẫn chịu cũng chỉ là phước báo trời người.

Có vài đệ tử có thể sẽ cho là tất cả pháp không, ngã không, nhơn không, việc “nhẫn” nhục cũng không, thế chẳng phải nhẫn và không nhẫn giống nhau chăng? Cho dù như vậy, nhưng vì sao ta phải nhẫn nhục? Ta không tu nhẫn nhục, chỉ cần sự việc đi qua, sau đó trong tâm ta không vướng mắc thì có thể được rồi. Nhưng khi vạn pháp đều không, quí vị tức là chúng sinh, quí vị không dính mắc, nhưng những chúng sinh tính toán, so bì với quí vị, bị quí vị làm tổn thương có thể không dính mắc chăng? Do đó, nếu như hành giả có cách nghĩ như trên, tức như trên đức Phật nói không tu phước đức mà muốn thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho rằng “Nhẫn” nhục cũng không, phước đức cũng không, chỉ cần phủ định tất cả là tánh không của Phật nói, đây tức là cái thấy đoạn diệt. Lại thí như, khi chúng ta đang tu hành, phải nhẫn chịu sự cám dỗ của tất cả cảnh trong ngoài thân tâm, nhẫn chịu sự lôi kéo của thói quen dục vọng, khiến tâm an trụ trên chánh kiến tánh không như như bất động. Chưa chứng đắc cảnh giới Như lai viên mãn, thì nói làm và không làm như nhau, từ đó tùy theo thói quen dục vọng của mình, theo tâm ham muốn, làm gì đều không sao cả, đây chăng phải là đang hành đạo Bồ tát, cũng chẳng phải là đang học Phật. Đệ tử Phật nên biết tất cả tướng hư vọng, mà làm tất cả pháp lành, viên mãn tất cả công đức, mới có thể triệt để trừ bỏ tất cả chấp ngã, thói quen dục vọng, từ trong mộng tỉnh lại.

Ở đây, đức Phật nói Bồ tát không thọ phước đức, “cảnh chân không” của Như lai giảng đến đây, tất cả đều bắt đầu nói từ chữ ‘có’ . Không tức thị sắc, cảnh của Như lai dụng đến trong không gian thời gian, trong cuộc sống của nhơn đạo, bình thường chỉ là không thọ không tham.

Chúng ta nói một chút về thế nào là “chẳng thọ”, vì sao đức Phật dùng “chẳng thọ phước đức” để giải thích Bồ tát “đắc thành ở nhẫn”, để cho Tu Bồ Đề giải không đệ nhất cũng không phản ứng lại ngay. Tôi nghĩ, có lẽ Tu Bồ Đề luôn coi việc theo Phật tu hành là phước đức lớn nhất trong cuộc đời, từ nào đến giờ chưa nghĩ qua còn có phước đức xuất thế nhập thế nào cần thọ, do đó mới chưa thể lập tức hiểu ý lời nói của Phật.

Ở nhơn đạo, Bồ tát hiểu rõ vạn pháp đều không, lại nhẫn chịu dục vọng dày vò thân tâm, nhẫn chịu hưởng thọ của các thứ xa xỉ của ngoại cảnh ăn ngon, mặc đẹp, âm nhạc, ca múa, nhận chịu cám dỗ của các thứ ngoại cảnh, như như bất động an trụ nơi chánh kiến tánh không, an tọa tu hành nơi yên tỉnh. Trong con mắt người thế tục, người nầy dường như không có phước đức. Vị đại Bồ tát chân thật đời đời kiếp kiếp không có tích lũy phước đức chăng? Thật sự không có năng lực thu được, hưởng thọ tất cả trên thế giới nầy chăng? Không phải thế, là một vị Bồ tát thật sự không tham luyến tất

cả phước đức hữu lậu của thế giới nầy. Bồ tát không tham luyến phước đức thế giới hữu lậu nầy, rộng hành đạo Bồ tát, công đức dần dần viên mãn, nhưng Bồ tát cũng chẳng tham luyến công đức xuất thế nữa, nhìn công đức cõi xuất thế cũng như huyễn hóa, do đó mới có thể ở trong “nhẫn” thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đức Phật đem cái hạnh đại Bồ tát nầy gọi là “chẳng thọ phước đức”.

Do đó ở mỗi vị hành giả có đại phước đức đang có mặt ở đây, nếu như quí vị có năng lực có điều kiện đạt được phồn hoa xa xỉ trên thế giới nầy, nhưng lại như như bất động, an trụ nơi chánh kiến tánh không của Phật để cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà không phải là an trụ ở trong vinh hoa phú quí của thế gian. Cũng giống như vậy, hành giả trong tu chứng có thể quán thiền duyệt, ánh sáng hóa thân, thần thông biến hóa, ba mươi hai tướng xem là huyển hóa, cũng là chẳng thọ phước đức, cũng là chẳng tham. Đây là Bồ tát trong kinh nói chẳng thọ phước đức, Bồ tát chẳng nên dính mắc tham. Do đó, ở đây đức Phật nói: “Nếu như có một người hiểu rõ tất cả pháp không tự tánh, mà có thể khiến tâm an trụ trong huyễn cảnh của các thứ mê hoặc cám dỗ, như như bất động, và nhờ đó thành tựu, phước đức lớn hơn bảy báu bằng như số cát sông hằng để làm Bồ tát bố thí.” Vả lại Ngài còn nói tiếp: “Bởi vì vị Bồ tát nầy duyên cớ không thọ phước đức.” Tu Bồ Để hỏi đức Phật: “Thưa Thế tôn! Thế nào là Bồ tát chẳng thọ phước đức?” Đức Phật nói: “Bồ tát đã làm việc phước đức thì không nên dính mắc tham, cho nên nói chẳng thọ phước đức.”

Nội dung căn bản phẩm thứ hai mươi tám là phẩm thứ hai mươi bảy có trình bày, trong phẩm thứ hai mươi bảy, đức Phật lo lắng cho các đệ tử cho rằng cho dù các pháp đều không, không cần tu ba mươi hai thứ hạnh thanh tịnh, không cần công đức đầy đủ viên mãn thì có thể đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, kiến giải nầy là nhận biết sai lầm đối với tri kiến tánh không của Phật nói, là sự phủ định và vứt bỏ đơn giản đối với vạn pháp, chẳng phải chánh kiến của Phật. Do đó, Phật nói: “Một vị Bồ tát biết tất cả đều không, lấy “Nhẫn” thành tựu, người nầy có được phước đức rất lớn.” Nhưng mọi người nên chú ý một chút, phần trước của phẩm nầy, trong trao đổi giữa đức Phật và Tu Bồ Đề đã vô số lần nói đến cái hư vọng của phước đức, mà trong phẩm thứ hai mươi chín nói đến chính vì phước đức là không tự tánh, bản chất cũng không, cho nên Như lai nói phuớc đức nhiều. Do đó ở đây, khi đức Phật đang nói đến Bồ tát phước đức nhiều lại thêm một câu nữa là: “Bởi vì các vị Bồ tát nầy đã không thọ, không tham phước đức, tức là đã phá được chấp trước đối với phước đức, do đó Ta nói họ có thể biết tất cả pháp đều không, mà được thành tựu ở nhẫn. Như vậy tu chứng, được phước đức còn hơn cả công đức của người dùng bảy báu bằng số cát sông hằng đem đi bố thí.”

Viết một bình luận