Sự thể hội trong quá trình tu hành của hàng cư sĩ Người tu hành ắt phải rộng tích công đức; toàn bộ tiến trình tu tập cho đến khi viên mãn, chính là quá trình không ngừng tích lũy công đức và khiến công đức dần đạt đến viên mãn; công đức là “tư lương” của người tu, nếu không có công đức thì trên con đường tu tập sẽ đầy dẫy chướng ngại, quanh mình hầu như đều là nghịch duyên, nơi “pháp–lữ–tài–địa” cũng khó được sự trợ giúp từ người khác; có người nói: tôi thường làm việc thiện, nhưng dường như vẫn gặp chướng ngại, vẫn không nhận được quả báo tốt; kỳ thực, đó chỉ là vì những việc thiện bạn làm còn chưa đủ để tiêu trừ nghiệp lực của chính mình, “phước nghiệp” tích lũy vẫn còn quá ít, nên công đức của thiện duyên chưa thể chín muồi; bởi vậy, trong suốt quá trình tu chứng, chúng ta cần không ngừng tích tụ công đức, không vì việc thiện nhỏ mà không làm, không vì việc ác nhỏ mà buông theo, có như thế mới có thể khiến công đức dần viên mãn, và con đường tu hành cũng theo đó mà đạt đến viên mãn.
Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định đều là những pháp môn tích lũy công đức; kết quả của việc tích tụ công đức ấy chính là khiến chúng ta dần dần hiển lộ “trí tuệ của Phật”; nhờ trí tuệ ấy mà tự biết mình vốn đầy đủ tất cả, từ đó đạt được sự mãn túc tối hậu của sinh mệnh, khiến “cuồng tâm” chợt dừng lặng, từ đây an nhiên tự tại.
Bố thí có thể phân thành hai loại: nội bố thí và ngoại bố thí; nói một cách giản dị, nội bố thí chính là biết đối đãi với chính mình cho đúng đắn, biết yêu hộ thân tâm; những hành vi như ăn uống vô độ, không giữ giờ giấc sinh hoạt, đắm chìm trong các dục lạc và kích thích, đời sống rối loạn, uống rượu quá mức, sử dụng chất độc hại, thường xuyên sân giận phiền não… đều làm tổn hại thân thể của chúng ta; thường khởi tâm giận dữ thì tổn hại can, hay nóng nảy phát tác thì thương tâm, ăn uống thất thường, không nhai kỹ nuốt chậm thì hại tỳ vị, sinh hoạt không điều độ, dục niệm không tiết chế, buông lung tà hạnh thì tổn thận và hệ sinh dục, lại thêm thức ngủ đảo lộn, suy nghĩ quá độ khiến não bộ thiếu dưỡng khí…; đây chỉ là lược nói sơ giản, nhưng kỳ thực rất ít người trong chúng ta thật sự biết thiện đãi chính mình, mà những điều ấy đều khiến công đức dần bị hao tổn.
Ngoại bố thí là đem tất cả những gì mình có để vô cầu mà trợ giúp chúng sinh: một nụ cười, một tấm lòng từ, công sức lao động, sự nhiệt thành, trạng thái an hòa của tâm, tài vật tiền của, những phương tiện thiện xảo, kỹ năng, cùng cả tri kiến về Phật pháp mà chia sẻ đến những người, loài vật hay thậm chí cây cỏ thật sự cần được nâng đỡ, mở rộng cho đến khắp cả ba cõi; ngoại bố thí không nằm ở chỗ nhiều hay ít, mà cốt yếu ở nơi tâm chân thành và sự tận lực; dĩ nhiên, việc cúng dường người xuất gia, kiến lập tự viện cũng đều thuộc về ngoại bố thí; bố thí có thể tích tụ công đức; còn trì giới lại chia làm tâm giới và thân giới: tâm giới là trực tiếp từ nơi khởi tâm động niệm mà hạ thủ công phu, khởi lên sự tỉnh giác quán chiếu, thường xuyên soi xét từng niệm khởi của mình, tu sửa và chuyển hóa tham, sân, si, mạn, nghi, dần dần tiêu trừ tập khí; kỳ thực trong tiến trình này cũng bao hàm cả bố thí, nhẫn nhục và thiền định, cho nên đây chính là con đường tích lũy công đức thù thắng bậc nhất.
Khi hành trì tâm giới, do chúng ta còn tập khí và dục vọng, nên lúc ban đầu chưa thể trực tiếp tu chứng nơi từng niệm khởi; vì vậy trước hết cần học cách khéo dụng tâm; ví như bạn là một người thầy thuốc, mỗi khi bệnh nhân đến khám, hãy quán tưởng họ như chính người thân của mình, nghĩ rằng nếu thân nhân mình lâm bệnh nặng như vậy thì mình sẽ đối đãi ra sao; khi ấy, sự quan hoài từ nội tâm, nỗi cảm thông như chính thân mình đau, cùng lòng yêu thương sẽ tự nhiên hiển lộ; bệnh nhân dù có chất phác đến đâu cũng có thể cảm nhận được, phần lớn họ đều mang tâm trạng bất an, khi cảm nhận được hơi ấm nơi người thầy thuốc, họ sẽ sẵn lòng mở lòng, tín nhiệm vị ấy; nhờ niềm tin ấy, trong quá trình trị liệu, dược lực có thể được tiếp nhận tốt hơn, bệnh tình vì thế mà mau hồi phục; hành xử như vậy, chính là đang tích lũy công đức; dẫu chưa tu hành sâu hay y thuật chưa cao, quả báo tối thiểu cũng khiến bạn trong nhiều đời được thân thể an ổn, bởi bạn đã dụng tâm chữa lành cho nhiều người và thường phát khởi tâm nguyện mong người khác được khỏe mạnh; suy rộng ra, nếu bạn thường chân thành tùy hỷ trước niềm vui của người khác, mong họ được an lạc, thì khi công đức tích tụ đến một mức độ nhất định, bạn sẽ cảm thấy tự thân thường hoan hỷ như gió xuân, không còn vì những việc nhỏ nhặt mà phiền não, niềm vui ngày một tăng trưởng; khi chúng ta dùng tâm mà quán chiếu như vậy, tuy năng lực còn hạn chế, nhưng theo sự tăng trưởng của thiện niệm, tham sân si mạn nghi cũng dần suy giảm; đến khi đạt đến chỗ đối với từng niệm khởi không cần dụng công mà vẫn tự điều phục, thì tâm tự nhiên tương ưng với đạo, đầy đủ phẩm chất bác ái, từ bi và bình đẳng; giới luật khi ấy không cần gắng giữ mà vẫn tự nhiên thành tựu, đó chính là chỗ rốt ráo của việc tích lũy công đức.
Thân giới tức là đem thân thể chúng ta mà hành trì, lấy chính hành vi để hiển bày đạo tâm của người tu học, như giữ gìn không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không ẩm tửu, không vọng ngữ v.v.; năm giới căn bản của Phật pháp là nền tảng mà người phát tâm tu chứng cần phải thọ trì; trì giới có thể tăng trưởng công đức; còn nhẫn nhục là hạnh biết bao dung, kham nhẫn, thấu hiểu, tùy hỷ đối với mọi loài chúng sinh quanh mình, không chấp trước nơi được mất hơn thua của tự thân; nhẫn nhục cũng là một pháp môn thù thắng để tích tụ công đức.
Thiền định là chỉ cho trạng thái thân tâm hoàn toàn an trú nơi hiện tại, không còn bị quá khứ làm cho phiền não, cũng không còn vì tương lai mà sinh tâm lo lắng; công đức của pháp này chiêu cảm quả báo nhanh chóng, chỉ trong một sát-na liền có thể đồng thời thọ nhận niềm an lạc và sự viên mãn mà công đức mang lại; thiền định cũng là một pháp môn tích lũy công đức.
Niệm Phật, trong đó niệm là ức niệm, và quán kinh, tức là dùng tâm mà quán chiếu, đều có thể khiến công đức của chúng ta mau chóng được viên mãn.