1. Tứ thiền, bát định.
“Tứ thiền bát định” là chỉ “Tứ thiền định của Sắc giới” và “Tứ Không định của Vô sắc giới”. Đức Phật khi chứng đạo và nhập Niết-bàn đều đã an trú trong đó. Đây là nền tảng của thiền định trong Phật pháp Tiểu thừa.
Trong Phật pháp, cảnh giới của “Tứ thiền bát định” bao gồm: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Trong Phật pháp, thế giới được phân thành Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Sắc giới có thập thất xứ trời, trong đó cõi Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên, chư thiên ở ba tầng trời này khi sinh ra đã tự có định lực của Sơ thiền. (Còn Dục giới có hai mươi loại chúng sinh, nhưng vì còn chấp trước vào thân thể và đủ loại dục vọng nên ngay cả định lực của Sơ thiền cũng không có.)
Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên và Quang Âm thiên, chư thiên ở ba cõi này khi sinh ra đã tự có định lực của Nhị thiền;
Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên và Biến Tịnh thiên, chư thiên ở ba cõi này khi sinh ra đã tự có định lực của Tam thiền;
Vô Vân thiên, Phúc Sanh thiên, Quảng Quả thiên, Vô Phiền thiên, Vô Tưởng thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện thiên và Sắc Cứu Cánh thiên, chư thiên ở tám tầng trời này có định lực của Tứ thiền.
Vô sắc giới có bốn cõi trời, lần lượt là Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định và Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Chúng ta gọi chung những cảnh giới thiền định mà chư thiên ở Sắc giới và Vô sắc giới đã chứng đắc là “Tứ thiền Bát định”.
“Tứ thiền Bát định” tuy thuộc về định lực của chư thiên nơi Sắc giới và Vô sắc giới, nhưng hàng nhân đạo chúng ta cũng có thể do tu chứng mà đạt được. Ở nhân đạo, hành giả chứng đắc sức lực của “Tứ thiền Bát định” có thể tùy theo một số trạng thái mà tự tại ra vào các tầng cảnh giới thiền định, tâm thần không tán loạn. Đối với những phiền não và khổ đau của thế gian, khả năng chịu đựng và tránh né của họ vượt ngoài sự hiểu biết của người thường, hơn nữa còn có được một phần thần thông.
Nhưng chỉ nương vào sức định của Tứ thiền Bát định thì vẫn chưa thể thoát khỏi luân hồi, vì hành giả chưa chứng ngộ được tính hư huyễn của thời gian và không gian, vẫn còn chịu sự ràng buộc và mê lầm trong không gian và thời gian của tam giới. Loại thiền định này cũng không phải là pháp môn riêng có của Phật giáo; ngay thời Đức Phật còn tại thế, các tông phái khác ở Ấn Độ cũng đã tu tập. Đức Phật sở dĩ coi trọng nó là vì lúc bấy giờ nhiều đệ tử của Ngài vốn xuất thân từ các tông phái khác ở Ấn Độ, họ đã có kinh nghiệm chứng đắc Tứ thiền Bát định. Đức Phật chỉ có thể dựa trên những kinh nghiệm và cảm thọ mà họ sẵn có, để chỉ dạy “chánh tri kiến” của Phật pháp, khiến họ xả bỏ các lạc thọ và cảnh giới thuộc Sắc giới và Vô sắc giới. Trước tiên, Ngài dẫn dắt họ chứng nhập cảnh giới “lấy Niết-bàn tịch diệt làm an lạc”, rồi sau đó chỉ bày giáo pháp Đại thừa, đưa đến chỗ chứng nhập cảnh giới Như Lai “vô sinh vô diệt”. Hành giả khi còn ở Dục giới mà tu chứng “Tứ thiền Bát định”, vì lộ trình thân tâm phải vượt qua các cảnh giới của Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, cho nên các nhân duyên giữa hành giả với chúng sinh trong tam giới đều sẽ hiển lộ; những nhân duyên ấy sẽ được chuyển hóa và biểu hiện qua chính thân tâm của hành giả. Hành giả Tiểu thừa nương vào ‘giới’ để tránh khỏi những chướng ngại do các ‘duyên’ gây nên. Thí như, khi còn ở trong cõi người, niềm ‘hoan hỷ’ của chúng sinh là do sự phân biệt của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và sự thỏa mãn các dục vọng mà có. Niềm “hoan hỷ” ấy ngắn ngủi, hời hợt, như hoa đàm thoắt nở thoắt tàn. Vì không có định lực, nên khi hoàn cảnh mà mình bám víu thay đổi, niềm vui của chúng ta liền tiêu tan. Còn sau khi hành giả tu thiền định nhập vào Sắc giới, sẽ cảm nhận được niềm vui lâu dài của chư thiên Sắc giới do sức định mà có. Do chúng sinh Sắc giới vẫn còn chút vi tế nơi “thân chấp”, nên hành giả chưa hoàn toàn quên thân, nhưng đã không còn dục cầu, lấy niềm vui của thiền định làm lạc, thân tâm của hành giả có thể nếm trải được “niềm vui vi tế”, điều mà chúng sinh cõi Dục không thể cảm nhận được. Niềm vui ấy phát khởi từ khí mạch của hành giả, vì năng lượng của khí mạch được chuyển hóa thành quang minh của Sắc giới. Loại ‘lạc’ này khiến hành giả cảm thấy nhu hòa, mềm mại, hoan hỷ, nhẹ nhàng, an ổn, lan tỏa ra từ từng tế bào. Hành giả có thể ‘chìm đắm’ trong niềm ‘thiền lạc’ này, đến nỗi không khởi sinh được sự tỉnh giác sáng tỏ hay năng lực hành động. Cảm thọ ấy khiến người ta mất đi cảm giác nặng nề của thân phàm, hoặc tạm thời quên mất thân. Nếu hành giả có thể thoát ra khỏi niềm lạc ấy, mà tiến vào “Vô sắc giới, thì quang minh của khí mạch trở nên như như bất động”. Khi ấy, hành giả có thể khí ngưng mạch dừng, mọi sự đều tự nhiên chìm vào tịch lặng, lâu dài không khởi một niệm, an trụ mãi trong định, vượt qua mọi cảm thọ hoan hỷ của thân tâm. Nếu hành giả thường xuyên an trụ trong định ấy mà không ra, thì cũng sẽ không thể vượt thoát cảnh giới trời Vô sắc. Còn bậc A-la-hán, dưới sự chỉ dạy của Đức Phật về kiến địa ‘nhân vô ngã’, trong toàn bộ tiến trình tu chứng đã hoàn toàn xả bỏ mọi cảm thọ của tự ngã và sự chấp trước nơi kinh nghiệm, dứt sạch mọi dục cầu của thân tâm, trực nhập vào ‘Diệt tận định’. Nếu vị ấy không xuất định, thì có thể không còn trong vòng luân hồi tam giới, gọi là ‘xin nghỉ dài hạn’. Nhưng rồi rốt cuộc vẫn có nhân duyên khiến Ngài phải xuất định, và khi ấy lại trở vào luân hồi trong tam giới.
Sức định của “Tứ thiền Bát định” vốn là năng lực mà chư thiên Sắc giới và Vô sắc giới đều có. Nhân loại chúng ta khác với họ ở chỗ: con người còn đủ thứ dục cầu và chấp trước nơi thân tâm. Nếu muốn đạt được năng lực ấy, thì phải lìa tình dứt dục, buông bỏ mọi cảm thọ nơi thân tâm, tránh xa những duyên trần phiền nhiễu, đó mới là con đường tu chứng thù thắng. Vừa muốn thỏa mãn các dục vọng của thân tâm, lại vừa mong cầu đạt được sức định của Tứ thiền Bát định, điều ấy là không thể. Ngoại trừ một số rất ít bậc có căn cơ đặc biệt, hoặc nhờ được chư Thượng sư, chư Phật Bồ-tát gia trì, thì lại là trường hợp khác; còn phần nhiều, hành giả tu chứng đều tùy theo nhân duyên riêng của mình.
2. Tứ quả A-la-hán và Định tịch diệt.
A-la-hán, tùy theo cảnh giới tu chứng và giải thoát, được phân thành bốn bậc: Sơ quả, Nhị quả, Tam quả và Tứ quả.
Sơ quả A-la-hán còn gọi là Tu-đà-hoàn quả, là bước đầu của hàng A-la-hán. Vị La-hán chứng đắc Sơ quả này chưa đoạn tận sinh tử, nên còn gọi là bậc Kiến đạo vị. ‘Tu-đà-hoàn’ là tiếng Phạn, dịch nghĩa là ‘Nhập lưu’, tức là đã nhập vào dòng pháp tánh của bậc Thánh, ngược dòng sáu trần của phàm phu.
Sơ quả A-la-hán đạt đến cảnh giới không còn bị sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) làm lay chuyển, nhưng vẫn còn phải trải qua bảy lần sinh tử luân hồi.
Nhị quả A-la-hán còn gọi là Tư-đà-hàm quả. ‘Tư-đà-hàm’ là tiếng Phạn, dịch nghĩa là ‘Nhất lai’ (một lần trở lại). Nếu không tiếp tục tiến tu, thì vị ấy còn phải một lần sinh lên cõi trời và một lần trở lại nhân gian, nên Nhị quả được gọi là Nhất lai quả.
Tam quả A-la-hán gọi là A-na-hàm quả. ‘A-na-hàm’ là tiếng Phạn, dịch nghĩa là ‘Bất lai’, tức là không còn trở lại cõi Dục để thọ sinh tử nữa.
Sơ quả là bậc Kiến đạo vị, Nhị quả và Tam quả thuộc về bậc Tu đạo vị, còn Tứ quả A-la-hán là bậc Vô học vị, không cần phải học nữa, đã liễu thoát sanh tử. Nhưng Tứ quả chỉ đoạn trừ được “phân đoạn sanh tử”, còn “biến dịch sanh tử” thì vẫn chưa dứt. Bởi vì hàng A-la-hán chưa biết rằng “ba cõi” vốn như huyễn, tự tánh “vô sanh” thì lấy đâu ra “chết”! Do vậy, vẫn còn có quan niệm về “sanh tử luân hồi”, nên trí tuệ chưa phải Phật trí rốt ráo; vì cái thấy chưa viên mãn, nên quả vị cũng chưa viên mãn, không thể thực sự thoát ly luân hồi một cách triệt để. Vì thế, cảnh giới Niết-bàn của các vị ấy được gọi là “Hữu dư Niết-bàn.
“Định tịch diệt” là chỉ trên nền tảng “Tứ thiền Bát định”, nương theo lời Phật dạy: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp; sanh diệt diệt hỹ, tịch diệt vi lạc”. Trong chánh kiến về “nhân vô ngã”, một trạng thái định buông bỏ hết thảy các thứ dục lạc về thân tâm, các cảm thọ và kinh nghiệm trong ba cõi, có thể an trụ suốt hàng mấy vạn đại kiếp.
3. Bồ-tát du hý tam-muội, tự tại xuất nhập trong thời gian – không gian và Thập-địa Bồ-tát.
Trong Đại thừa Phật pháp, trên con đường tu chứng thành Phật, Bồ-tát trải qua mười lần chuyển biến căn bản trọng yếu, gọi là Mười thứ lớp cảnh giới tu chứng hay quả vị của Bồ-tát. Tức là từ Sơ địa cho đến Thập địa Bồ-tát, với danh xưng như sau:
① Hoan Hỷ địa, ② Ly Cấu địa, ③ Phát Quang địa, ④ Diệm Huệ địa, ⑤ Nan Thắng địa, ⑥ Hiện Tiền địa, ⑦ Viễn Hành địa, ⑧ Bất Động địa, ⑨ Thiện Huệ địa, ⑩ Pháp Vân địa.
Từ Sơ địa cho đến Thập địa, mỗi khi chứng đắc một địa, hành giả đều có sự đột phá trọng điểm khác nhau đối với sự chấp trước nơi thân tâm và đối với thời gian và không gian. Mỗi địa Bồ-tát đều có thể tự tại xuất nhập trong cảnh giới quả vị đã chứng cùng các cảnh giới thấp hơn, không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian. Như khi chứng đến Thập địa Bồ-tát, có thể tự tại xuất nhập tất cả cảnh giới từ Sơ địa cho đến Thập địa.
Do mỗi địa vị tu chứng của Bồ-tát đều tương ứng với những cảnh giới thời gian và không gian khác nhau, tất nhiên cũng tương ứng với chúng sanh trong các cảnh giới thời gian và không gian ấy. Vì vậy, Bồ-tát chứng địa có thể tự tại xuất nhập các cảnh giới đã chứng để thực hiện sự nghiệp độ sanh. Trong Đại thừa Phật pháp, cảnh giới Bồ-tát tự do xuất nhập thiền định để phổ độ chúng sanh này được gọi là “Bồ-tát Du Hý Tam-muội”. Kinh điển có lời mô tả cảnh giới của Bồ-tát từ Bát địa trở lên rằng: “Bồ-tát thanh lương nguyệt, thường du tất cánh không”.
4. Như Lai Không định vô tiến vô xuất và Tam thân viên mãn
Thành tựu Tam thân của Phật là Pháp thân viên mãn, Báo thân viên mãn và Hóa thân viên mãn. Tam thân của Phật được phân định trong mối tương quan đối đãi với chúng sanh trong ba cõi sáu đường. Thực ra, đối với một vị Phật viên mãn thì Pháp thân, Báo thân và Hóa thân vốn là một thể, thấy một tức thấy cả ba.
Trong nhân đạo, thành tựu Pháp thân là chỉ sự triệt ngộ nơi cảnh giới tâm ý; thành tựu Báo thân là chỉ hành giả không những triệt ngộ tánh Không nơi tâm tánh, mà còn chuyển hóa nhục thân phàm phu bằng thành thân quang minh, có thể thị hiện thần thông biến hóa giữa cõi người; thành tựu Hóa thân là chỉ chư Phật có thể trong các thời gian và không gian sai biệt, đồng thời hóa hiện những hình tướng khác nhau. Như Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nơi thế giới này thị hiện tướng A-la-hán để hóa độ chúng sanh.
Một vị Phật viên mãn, dù thị hiện ở bất cứ thời gian và không gian nào, trạng thái tồn tại của Ngài vẫn là trạng thái “Không định”. Loại “định” này không giống như định của A-la-hán hay Bồ-tát, vốn còn có tiến có xuất và tuần tự tu chứng; đây là trạng thái tồn tại tự nhiên vốn có của thân tâm Phật. Chúng ta gọi sự thị hiện trạng thái này nơi nhân gian là “Như Lai Không định”. Cảnh giới và trí tuệ chứa đựng trong “Như Lai Không định” vô cùng kỳ diệu; trạng thái sinh mệnh này cũng mang đến sự gia trì và nhiếp thọ không thể nghĩ bàn đối với chúng sanh trong Tam giới lục đạo. Do đó, đôi khi, ngay cả khi Đức Phật im lặng nơi thế gian, không nói một lời nào, vô lượng chúng sanh vẫn có thể đắc độ nhờ trạng thái ấy.
Trong Phật pháp, nhờ ‘thiền định lực’ mà có thể phát sinh Ngũ nhãn Lục thần thông, tức là: Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông, Thần túc thông và Lậu tận thông.
Thiên nhãn thông: Hành giả có năng lực nhìn xuyên cách vật thể, tầm nhìn không bị chướng ngại. Có thể thấy rõ các cơ quan nội tạng trong thân người, những vật được chôn giấu dưới đất, v.v… Đồng thời có khả năng nhìn xa, phóng to hay thu nhỏ tất cả xuyên thấu vật thể.
Thiên nhĩ thông: Có thể nghe được những âm thanh mà tai người bình thường không thể nghe thấy, chẳng hạn như những âm vượt ngoài tần số thính giác của con người. Có khả năng nghe âm thanh ở nơi xa, thậm chí lắng nghe được cả tâm niệm chưa phát thành lời.
Tha tâm thông: Có thể biết được những ý nghĩ trong tâm người khác.
Túc mệnh thông: Có khả năng biết rõ các việc đã xảy ra trong quá khứ, và có thể tiên tri về những sự việc vị lai.
Thần túc thông: Có khả năng di chuyển trong không gian và thời gian, không cần đi mà vẫn đến. Thí dụ: nếu hành giả khởi niệm muốn đến núi Phổ Đà, thì ngay tức khắc núi Phổ Đà hiện ra trước mặt hành giả. Nhưng đối với người khác, họ sẽ thấy hành giả đã hiện diện ở núi Phổ Đà.